Bản án 217/2020/HS-ST ngày 30/09/2020 về tội trộm cắp tài sản và tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 217/2020/HS-ST NGÀY 30/09/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ TỘI CHỨA CHẤP TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 216/2020/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2020/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:

1/ VŨ VĂN D (Đ gà), sinh năm 1992 tại Đồng Nai. HKTT và chỗ ở: Ấp S M, xã B S, huyện T, Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không Trình độ học vấn: 7/12 Dân tộc : Kinh Giới tính : Nam Tôn giáo : Thiên chúa Quốc tịch : Việt Nam Con ông Vũ Văn D1 và bà Trần Thị L.

Gia đình bị can có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không Nhân thân: Ngày 23/3 năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom tuyên 10 tháng tù giam về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 21/01/2018.

Bị bắt ngày 19/4/2020, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

2/ HOÀNG NGỌC C (C N), sinh năm 1995 tại Đồng Nai. HKTT và chỗ ở: Ấp Đ H, xã H N, huyện Tr B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không Trình độ học vấn: 7/12 Con ông Hoàng Văn N và bà Nguyễn Thị L2. Dân tộc : Kinh Giới tính : Nam Tôn giáo : Thiên chúa Quốc tịch : Việt Nam

Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ nhất.

Sống chung như vợ chồng với chị Trần Thị Ngọc M, sinh năm 1996; Có 01 con sinh năm 2015.

Tiền án: Có 01 tiền án:

- Ngày 29/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện thành phố Biên Hòa xử 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 30/01/2019.

Tiền sự: Không Nhân thân:

- Ngày 27/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. (Bản án đã có hiệu lực pháp luật) Bị bắt ngày 30/4/2020 theo lệnh, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

3/ ĐÀM BẮC CH (Ch L), sinh năm 1997 tại Đồng Nai. HKTT và chỗ ở: Ấp C X, xã T A, huyện V C, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không Trình độ học vấn: 02/12 Dân tộc : Kinh Giới tính : Nam Tôn giáo : Thiên chúa Quốc tịch : Việt Nam Con ông Đàm Thanh Ph và bà Thân Thị L3.

Gia đình có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không Nhân thân:

- Ngày 17/9/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt ngày 18/02/2014.

- Ngày 19/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/4/2020, hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

* Bị hại: Anh Trần Văn V, sinh năm 1987 Địa chỉ: Ấp A Ch, xã B S, huyện Tr B, tỉnh Đồng Nai.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L4, sinh năm 1989 Địa chỉ: Ấp A Ch, xã B S, huyện Tr B, tỉnh Đồng Nai.

* Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Văn Tr

2/ Anh Nguyễn Thanh C1

3/ Anh Nguyễn Quyết T

4/ Chị Nguyễn Thị Thanh Th 

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 23 giờ, ngày 16/4/2020 và rạng sáng ngày 17/4/2020, Vũ Văn D đi bộ đến nhà anh Trần Văn V tại thôn T L, ấp A Ch, xã B S, huyện Tr B thì phát hiện anh V đang ngủ tại hiên nhà trong sân nên D đã mở cổng (không khóa) đi vào sân nhà và lục túi quần của anh V lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone XS MAX, 01 điện thoại Nokia màu xanh, 01 chìa khóa từ và 01 xe mô tô SH125i biển số 60H1-213.91 bên trong cốp xe có 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đều mang tên Nguyễn Thị L2. D chạy xe vừa lấy được về hướng Biên Hòa, khi đi trên đường QL1A thuộc xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom thì D vứt đi chiếc điện thoại Nokia màu xanh. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, D dùng điện thoại Samsung A51 của mình chụp hình ảnh chứng minh nhân dân và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60H1- 213.91 và gửi qua ứng dụng zalo cho Nguyễn Văn Tr để nhờ bán xe mô tô SH125i. Vào ngày 17/4/2020, D chạy xe mô tô SH125i trên đến tiệm “Game bắn cá 3979” tại phường An Bình, TP. Biên Hòa do Hoàng Ngọc C quản lý. Tại đây, D để lại chiếc xe mô tô SH125i tại tiệm game 3979 và đi ra ngã tư bồn nước để gặp Trường. D trao đổi và nhờ Tr bán chiếc xe mô tô SH125i biển số 60H1-213.91 nhưng do Tr trả giá rẻ nên D không bán, đồng thời D đưa cho Tr 01 chiếc điện thoại Iphone XS MAX và nhờ mang điện thoại đi bẻ khóa nhưng không được. D gọi điện thoại cho Nguyễn Quyết T để nhờ bẻ khóa điện thoại Iphone XS MAX trên, khi Tr đang giao điện thoại cho T tại ngã ba Trị An thuộc xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom thì bị Công an triệu tập về làm việc. Sau khi gặp Trường, D quay về tiệm Game bắn cá 3979 nói cho C biết xe mô tô hiệu SH125i biển số 60H1-213.91 là do D mới trộm cắp mà có và nhờ C làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số giả cho xe mô tô SH125i trên để dễ sử dụng, C đồng ý. Sau đó, D đi về ngã ba Trị An để gặp T lấy điện thoại thì bị Công an triệu tập về làm việc.

C về dùng điện thoại Iphone 6 của mình chụp hình số khung, số máy và hình ảnh của xe mô tô SH125i trên gửi cho 01 trang facebook tên “Làm biển số đẹp” để nhờ làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe giả với giá 3.000.000đ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) liên hệ với C qua facebook hẹn gặp tại ngã tư Bồn nước thuộc phường An Bình, thành phố Biên Hòa để giao cho C 01 biển số xe mô tô 59S3- 312.29 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59S3-312.29 mang tên Nguyễn Văn H, C đưa 3.000.000đ cho người đàn ông này. Sau đó, C gỡ biển số 60H1-213.91 trên xe SH125i và gắn biển số 59S3-312.29 vào. C nhờ Nguyễn Thanh C1 (thường gọi C1 tôm) chạy xe mô tô hiệu SH125i có gắn biển số 59S3- 312.29 đến gửi tại bãi xe của Bệnh viện đa khoa Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, sau đó điện thoại cho Đàm Bắc Ch và nói Ch đi lên Bệnh Viện Đa khoa Thống Nhất để lấy xe về cho D vì D trộm cắp xe đã bị Công an bắt, Ch đồng ý. C đưa cho Ch 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59S3-312.29, Ch cùng với C đi ra bệnh viện Đa khoa Thống Nhất lấy xe mô tô SH125i trên, sau đó Ch chạy chiếc xe mô tô SH125i trên đi về nhà của Ch cất giấu. Đến 18/4/2020, Cơ quan Công an mời Ch về làm việc, đồng thời tạm giữ tại nhà Ch 01 xe mô tô Honda hiệu SH 125i màu đen mang biển số 59S3-312.29 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59S3-312.29 mang tên Nguyễn Văn H.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô hiệu Honda SH125i màu đen mang biển số 59S3 – 312.29;

01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung J2 Core màu đen; 01 điện thoại di động màu vàng gol nhãn hiệu Iphone XS Max; 01 điện thoại di động Nokia màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Oppo R7 màu hồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A51; số tiền 5.500.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 02 USD; 01 chứng minh nhân dân; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60H1 – 213.91 đều mang tên Nguyễn Thị L4 và 01 biển số xe mô tô 60H1- 213.91.

- Đối với 01 điện thoại Nokia màu xanh loại bàn phím, D đã vứt bỏ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã truy tìm nhưng không thu hồi được.

Ngày 24/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Vũ Văn D, Hoàng Ngọc C và Đàm Bắc Ch. Quá trình điều tra, bị can D, Ch và C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Ngày 23/4/2020, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Trảng Bom kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda SH125i màu đen mang biển số 60H1-213.91 có trị giá 72.000.000đ, 01 điện thoại di động Iphone XS MAX có trị giá 14.000.000đ và 01 điện thoại Nokia màu xanh có trị giá 500.000đ. Tổng trị giá là 86.500.000đ.

Tại bản cáo trạng số 236/CT/VKS-HS ngày 14/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom để xét xử đối với bị cáo Vũ Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, xét xử đối với các bị cáo Hoàng Ngọc C và Đàm Bắc Ch về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo:

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử bị cáo Vũ Văn D mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 323; s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đối với bị cáo Cường áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử bị cáo Đàm Bắc Ch mức án từ 09 tháng đến 18 tháng tù; bị cáo Hoàng Ngọc C mức án từ 09 tháng đến 18 tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone XS MAX; 01 xe mô tô hiệu Honda SH125i màu đen mang biển số 60H1-213.91; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đều mang tên Nguyễn Thị L4. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả cho chủ sở hữu.

- Đối với 01 biển số xe 59S3-312.29 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59S3-312.29 mang tên Nguyễn Văn H liên quan đến hành vi làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan tổ chức nên tách ra xử lý sau.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A51 của D và 01 điện thoại hiệu Samsung J2 core màu đen của Ch sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công.

- Đối với 01 điện thoại hiệu Oppo R7 của anh Nguyễn Văn Tr, 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen tạm giữ trong người của Nguyễn Quyết T, số tiền 5.500.000đ; 01 tờ tiền mệnh giá 02 USD tạm giữ trong người của D không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu.

- Đối với 01 điện thoại Iphone 6 của C dùng để liên lạc với Ch, C đã bán cho một người bạn không rõ nhân thân lai lịch nên không có căn cứ thu hồi.

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn V và chị Nguyễn Thị L4 đã nhận lại các tài sản bị mất và không yêu cầu về phần bồi thường dân sự. Riêng đối với chiếc điện thoại Nokia màu xanh do bị cáo D làm mất anh chị cũng không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Văn D, Đàm Bắc Ch và Hoàng Ngọc C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Trên cơ sở đó đã có đủ căn cứ chứng minh: Vào khoảng rạng sáng ngày 17/4/2020, bị cáo Vũ Văn D đã có hành vi lợi dụng việc anh Trần Văn V ngủ tại hiên nhà, cổng không khóa nên đã lén lút đi vào sân nhà, lục túi quần của anh V lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX, 01 điện thoại Nokia màu xanh, 01 chìa khóa từ và 01 xe mô tô SH125i biển số 60H1-213.91. Tổng trị giá tài sản là 86.500.000đ. Sau khi trộm cắp được số tài sản nêu trên, bị cáo đã chạy xe mô tô SH125i trên đến tiệm “Game bắn cá 3979” nhờ bị cáo Hoàng Ngọc C làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số cho xe mô tô SH125i và có nói cho C biết xe này do bị cáo trộm cắp mà có. Bị cáo D để lại chiếc xe mô tô SH125i cùng giấy tờ cho bị cáo C. Khi biết bị cáo D đã bị bắt, bị cáo C gọi cho bị cáo Đàm Bắc Ch tới lấy xe mô tô hiệu SH125i gửi tại bãi xe của Bệnh viện đa khoa Thống Nhất để lấy xe chạy về nhà cất giấu. Do đó, hành vi của bị cáo Vũ Văn D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; hành vi không hứa hẹn trước mà chứa chấp xe mô tô SH125i biển số 60H1-213.91 biết rõ do D trộm cắp mà có của bị cáo Hoàng Ngọc C, Đàm Bắc Ch bị truy tố về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác trái pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng, mà còn gây mất an ninh xã hội tại địa phương. Các bị cáo đều là những thanh niên trưởng thành nhưng lại thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, đã từng bị xét xử về hành vi phạm tội và đi chấp hành án nhưng vẫn không lấy đó làm bài học cho bản thân, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần có mức hình phạt thật nghiêm khắc để trừng phạt, răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân sống biết tuân thủ pháp luật.

[3]. Xét về vai trò, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Đối với bị cáo Vũ Văn D: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

[3.2] Các bị Hoàng Ngọc C, Đàm Bắc Ch cùng thực hiện một hành vi phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn. Bị cáo C là người giữ vai trò quan trọng, rủ rê, lôi kéo bị cáo Ch tham gia và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội (chứa chấp xe trộm cắp được tại tiệm game mình quản lý, làm dùm biển số và giấy đăng ký giả cho xe để sử dụng, nhờ người mang xe tới bệnh viện Thống Nhất cất giấu). Bị cáo Ch có vai trò là đồng phạm tích cực, khi được C nhờ lên lấy xe, cất giấu dùm, mặc dù đã biết xe đó do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý giúp sức cho bị cáo C. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm, mức hình phạt của bị cáo C cao hơn so với bị cáo Ch.

[3.3] Các bị cáo C, Ch đều có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội xâm phạm sở hữu. Riêng bị cáo C phạm tội khi chưa được xóa án tích đối với bản án số 119/2017/HSST ngày 29/03/2017 của TAND thành phố Biên Hòa nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngày 27/8/2020, bị cáo C bị TAND thành phố Biên Hòa xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 459/2020/HS-ST đã có hiệu lực pháp luật nên cần tổng hợp hình phạt trong bản án này. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo C và Ch đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước.

[4] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại - anh Trần Văn V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị L4 đã được trả lại số tài sản bị mất gồm: 01 điện thoại di động Iphone XS MAX; 01 xe mô tô hiệu Honda SH125i màu đen mang biển số 60H1-213.91; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đều mang tên Nguyễn Thị L4 (BL 97). Anh V và chị L không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A51 của bị cáo D, và 01 điện thoại hiệu Samsung J2 core màu đen của bị cáo Chiến sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công.

- Đối với 01 điện thoại hiệu Oppo R7 của anh Tr không liên quan đến vụ án nên trả lại.

- Đối với 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen tạm giữ trong người của anh Nguyễn Quyết T và số tiền 5.500.000đ, 01 tờ tiền mệnh giá 02 USD tạm giữ trong người của bị cáo D đều không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả cho chủ sở hữu là phù hợp (BL 283, 284).

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật.

[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và án phí đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D (Đương gà) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn D (Đ gà) 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2020.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Áp dụng thêm điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 56 BLHS đối với bị cáo C.

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Ngọc C (C N) và Đàm Bắc Ch (Ch L3) phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc C (C N) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của tội đang bị xét xử với hình phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 459/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2020.

Xử phạt bị cáo Đàm Bắc Ch (Ch L) 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2020.

- Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A51 của bị cáo Vũ Văn D và 01 điện thoại hiệu Samsung J2 core màu đen của bị cáo Đàm Bắc Ch.

+ Trả lại cho anh Nguyễn Văn Tr 01 điện thoại hiệu Oppo R7.

(Tất cả các vật chứng trên được giao nhận theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/9/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Vũ Văn D, Hoàng Ngọc C và Đàm Bắc Ch, mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 217/2020/HS-ST ngày 30/09/2020 về tội trộm cắp tài sản và tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có

Số hiệu:217/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bom - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về