Bản án 21/2020/HS-ST ngày 19/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 21/2020/HS-ST NGÀY 19/05/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/TLST-HS ngày 20/4/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HS ngày 07/5/2020 đối với bị cáo:

Trn Văn L, sinh ngày 09/11/1980 tại huyện CH, tỉnh TQ;

Nơi ĐKNKTT, chỗ ở hiện nay: Xóm .., xã QQ, huyện YS, tỉnh TQ; quốc tịch: Việt Nam; dân Tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Xuân B và bà Ngô Thị L (đã chết); vợ Nguyễn Thị M (đã ly hôn); có 02 con lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011;

Tiền án: Ngày 28/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện YS, tỉnh TQ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất chất ma túy, chấp hành xong hình phạt chính ngày 04/4/2018.

Tiền sự: Ngày 27/9/2019 bị Công an phường PT, thành phố TQ, tỉnh TQ xử phạt vi phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa chấp hành nộp phạt; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ ngày 22/3/2020 tại thôn B, xã NL, huyện CH, tỉnh TQ, Công an huyện Chiêm Hóa phối hợp với Công an xã NL, huyện CH lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Văn L về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. L tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra 01 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài gói bằng hai giấy bạc màu vàng, trong cùng chứa chất bột vón cục màu trắng ngà, L khai là Heroine mục đích để sử dụng.

Tại biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 22/3/2020 tại Công an huyện Chiêm Hóa đối với Trần Văn L, kết quả: (+) Dương tính.

Tại Kết luận giám định số 280/GĐKTHS ngày 23/3/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng ngà có trong 01 gói nhỏ thu giữ của Trần Văn L là Heroine có khối lượng là 0,126g (Không phẩy một hai sáu gam).

Quá trình điều tra Lương khai: Khoảng 16 giờ ngày 22/3/2020, L đi bộ từ nhà bố đẻ là ông Trần Xuân B tại thôn C, xã NL, huyện CH, tỉnh TQ đến nhà Ngô Hồng P trú cùng thôn mượn xe mô tô, khi đến nhà P thấy P ở nhà, L nói với P "chú cho anh mượn cái xe để đi đón con", P đồng ý cho L mượn xe mô tô biển kiểm soát 22B1-748.32, sau đó L điều khiển xe mô tô đi xã PN, huyện YS mục đích tìm mua ma túy Heroine cho bản thân, đến thôn LM, xã PN, huyện YS, L gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đứng một mình ở cạnh đường, L hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine có đặc điểm bên ngoài gói bằng hai lớp giấy bạc màu vàng với giá 200.000 đồng. Mua được Heroine, L đi vào chỗ vắng người qua lại, lấy gói Heroine san ra một ít để sử dụng bằng cách đốt hít vào cơ thể, số còn lại L gói lại như cũ và cất giấu vào túi áo đang mặc và điều khiển xe mô tô về nhà. Khoảng 20 giờ cùng ngày khi L về đến thôn B, xã NL, huyện CH thì bị Công an huyện Chiêm Hóa phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Cáo trạng số: 22/CT-VKSCH ngày 17/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Trần Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 16 đến 20 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/3/2020.

Về hình phạt bổ sung phạt tiền: Bị cáo tàng trữ ma túy trái phép không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Trần Văn L, được niêm phong chữ ký xác nhận và có dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.

Đối với người đàn ông bán Heroine cho Trần Văn L quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn L Công an huyện Chiêm Hóa đã xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề nghị xem xét.

Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 22/3/2020 bị cáo Trần Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy Heroine có khối lượng là 0,126g (Không phẩy một hai sáu gam), khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ trong phạm vi khối lượng ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (từ 0,1 gam đến 05 gam). Đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Ma Túy là chất gây nghiện, có tác hại cho sức khỏe con người, là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm tội, sa sút về kinh tế, gây đổ vỡ hạnh phúc gia đình..., nhưng bị cáo đã đi ngược lại quy định Nhà nước, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm pháp luật, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[3] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự ngày 27/9/2019 bị Công an phường PT, thành phố TQ, tỉnh TQ xử phạt vi phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 28/4/2017 bị Tòa án nhân dân huyện YS, tỉnh TQ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất chất ma túy, chấp hành xong hình phạt chính ngày 04/4/2018, do đó phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là "Tái phạm". Được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải", "Có bố đẻ là ông Trần Xuân B được Ban Chấp hành Trung ương Hội nông dân Việt Nam tặng thưởng bằng khen". Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, tái phạm, hành vi phạm tội là nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng mức án tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về vật chứng vụ án: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 22B1- 748.32 của anh Ngô Hồng P bị cáo mượn sử dụng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra chủ sở hữu không biết bị cáo sử dụng vào việc trái pháp luật. Ngày 30/3/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, nên không phải xem xét.

Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Văn L xét thấy đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Trần Văn L, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Văn L, Công an huyện Chiêm Hóa đã ra Quyết định xử phạt hành chính nên không xem xét xử lý.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo phạm tội không có tính chất vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. Không thực hiện tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc cấm hành nghề làm công việc nhất định đối với bị cáo.

[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Trần Văn L 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22/3/2020.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Trần Văn L. Vật chứng là 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Trần Văn L, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi tang vật vụ Trần Văn L giám định ngày 23/3/2020. Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 20 tháng 4 năm 2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.

Trần Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 19/5/2020.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2020/HS-ST ngày 19/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:21/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về