Bản án 21/2020/HS-ST ngày 16/09/2020 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 21/2020/HS-ST NGÀY 16/09/2020 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trọng L, (tên gọi khác: T) sinh ngày 20 tháng 7 năm 1990, tại Quảng Trị; nơi ĐKHKTT: Khu phố H, phường M, thành phố Đ tỉnh Quảng Trị; chổ ở: Khu phố B, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu C, sinh năm 1948 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1958; có vợ là Lê Thị Thùy T, sinh năm 1998; có 01 con (sinh năm 2018).

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 10/6/2019 bị Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thủ tục xử phạt không lập biên bản 2.500.000đồng về hành vi: “Xâm hại sức khỏe của người khác”. Ngày 26/6/2020 thi hành xong.

Nhân thân:

- Ngày 24/12/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Trị xử phạt 03 tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời thời gian thử thách là 12 tháng. Đối với khoản án phí bị cáo chưa thi hành xong nhưng khi phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 10 tháng 08 ngày. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS 2015 bị cáo Nguyễn Trọng L được coi là không có án tích.

- Ngày 27/5/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 18 tháng tù về tội: “Cưỡng đoạt tài sản”, ngày 21/02/2015 chấp hành xong hình phạt tù. Về phần trách nhiệm dân sự bị cáo chưa bồi thường 914.000đồng (do người được thi hành án chưa có đơn yêu cầu thi hành án nên chưa ra Quyết định thi hành án về phần bồi thường dân sự). Đến ngày 08/11/2019 bị cáo phạm tội mới thì đã quá 05 năm do đó đã hết thời hiệu thi hành bản án (theo khoản 1 Điều 30 Luật thi hành án dân sự) nên đương nhiên được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2019 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Hoàng Hữu Q, sinh năm 1968 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

1. Bà Phạm Thị B, sinh năm 1976 (vợ bị hại), có mặt;

2. Cháu Hoàng Thị Phương C, sinh ngày 01/12/ 2003 (con bị hại), có mặt;

3. Cháu Hoàng Phương A, sinh ngày 06/6/2008 (con bị hại), có mặt;

4. Cháu Hoàng Hữu Đ, sinh ngày 29/12/2012 (con bị hại), có mặt.

Cùng nơi cư trú: Khu phố B, phường M, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Người đại diện hợp pháp của các cháu: C, A, Đ: Có bà Phạm Thị B (mẹ đẻ của các cháu) là người đại diện theo pháp luật, có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lê Thị Thùy T, sinh năm 1998; nơi cư trú: Khu phố B, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (vợ của bị cáo), có mặt;

2. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1958; nơi cư trú: Khu phố H, phường M, thành phố Đ tỉnh Quảng Trị (mẹ của bị cáo), có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

* Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Quang A, sinh năm 1979, vắng mặt;

2. Cháu Nguyễn Quang H, sinh năm 2005, vắng mặt;

Người giám hộ của cháu Nguyễn Quang H: Anh Nguyễn Quang A, sinh năm 1979; (bố cháu H), vắng mặt;

3. Anh Lê Đức T, sinh năm 1987, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 50 phút ngày 08/11/2019, Nguyễn Trọng L đi bộ từ phòng trọ đến khu vực vỉa hè thuộc Công viên FIDEL (phía sau số nhà 24/48 đường D, thuộc khu phố B, phường M, thành phố Đ) để hái rau về nấu ăn. Lúc đi L mang theo 01 cây kéo, 01 cây dù che mưa và 01 bao nilon màu trắng. Khi đến địa điểm trên thì L thấy trên vỉa hè có 01 đám rau khoai lang và dùng kéo cắt thì ông Hoàng Hữu Q (là chủ vườn rau) chạy xe máy đến, phía sau chở cháu Hoàng Phương A sinh năm 2008 (là con ông Q) đi học, đến gần vị trí L đang hái rau và nói: “Rau nớ nhà tau trồng đó răng mi cắt đi rứa” L đáp: “Dạ không, con cắt mấy đọt về ăn mì tôm thôi, chú không cho thì thôi”. Ông Q điều khiển xe máy bỏ đi, sau đó Lđi đến 01 vạt rau khác cách đó 15m và tiếp tục dùng kéo cắt rau, khoảng 02 phút sau ông Q quay lại dừng xe máy và đi đến chổ L đang cắt rau và nói: “Mi cắt rau nhà tau mãi rứa”, L đáp: “Chú ơi! Lúc nãy vạt rau bên nớ chú nói của chú thì con đã qua đây rồi, ở đây chú cũng nói là rau của chú là răng, đây đoạn ni rau ngoài vỉa hè mà, chú lớn rồi mà chú nói chi lạ rứa”. Ông Q nói tiếp: “Tau không biết chổ mô nhưng tau trồng là của tau”, L nói lại: “Chú người lớn mà chú xử xự như giang hồ rứa”, ông Q nói tiếp: “Mi ưng hái à” và đi đến một hàng rào ở gần đó rút 01 thanh tre dài 1,37m, đường kính 0,02m rồi đánh vào người của L, L dùng tay trái đang cầm dù để đỡ nên dù bị tuột khỏi tay và rơi xuống đường, L bị đánh trúng 03 phát vào tay trái nên L đi thụt lùi và nói:“Chú lớn mà chi lạ rứa, làm chi mà lấy đùi đập con”, ông Q nói: “Mi nói à” rồi tiếp tục dùng thanh tre đánh trúng vào đùi trái của L và áp sát vào người, dùng tay trái chụp vào cổ áo của L. Do sợ bị đánh tiếp, đang sẵn cây kéo cầm bên tay phải, L đâm mạnh một nhát trúng vào người phía sau lưng trái của ông Q. Bị đâm ông Q thả tay ra, lùi về phía sau thì L vẫn cầm kéo trên tay huơ qua huơ lại trước mặt ông Q để dọa thì ông Q thụt về phía sau, trên tay vẫn cầm thanh tre và đánh về phía L nhưng không trúng. Trong lúc ông Q thụt lùi thì vấp phải vỉa hè và ngã về phía sau, lúc này L xông vào dùng tay trái chụp thanh tre trên tay ông Q và nói: “Giờ chừ tui đâm chú là có chuyện, nhưng chuyện ni hắn không đáng vài ba đọt rau, chừ chú cầm đùi chú đập tui là chú biết sai rồi đó”. Nói xong L thả thanh tre và nói tiếp: “Chú đứng dậy đi”, lúc này ông Q tiếp tục đứng dậy dùng thanh tre đánh về phía L nhưng không trúng. Lnói: “Giờ chú nhắm chú có đập được tui không, hồi nãy ở trong đó cấn cột điện tui chạy không được thôi, chứ ngoài ni chú đập tui một đời cũng không được” thì ông Q vứt thanh tre trên vỉa hè rồi đi về phía xe máy, vừa đi ông Q vừa nói: “Mi nhớ tau nghe”. L quay lưng đi về phía phòng trọ, còn ông Q đề xe máy nổ, nghe tiếng máy nổ L nghĩ ông Q đã về nên đi thẳng về phòng trọ. Sau đó ông Hoàng Hữu Q bị choáng và ngã thì được mọi người phát hiện đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị, sau đó tiếp tục chuyển vào Bệnh viện Trung ương Huế tiếp tục cấp cứu, đến ngày 15/11/2019 thì ông Q tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y số: 896/KLGĐ-PC09 ngày 22/11/2019 của Phòng PC 09 Công an tỉnh Quảng Trị, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Hoàng Hữu Q là do: Mất máu không hồi phục do vết thương thủng động mạch chủ ngực. Cơ chế hình thành vết thương vùng lưng trái: Do vật nhọn tác động từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải.

Tại bản kết luận giám định số: 1116/C09 (Đ4 + Đ5) của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:

- Mẫu đất bám dính ở đôi dép thu của đối tượng Nguyễn Trọng L gửi giám định lẫn nhiều tạp chất nên không đủ yếu tố giám định, so sánh.

- Trên cây kéo thu của Nguyễn Trọng L có AND lẫn của nhiều người, không truy nguyên được đối tượng.

- Trên áo phông nam thu tại hiện trường có máu của bị hại Hoàng Hữu Q.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 210/TGT ngày 12/12/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Trị kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Trọng L là: 0%.

Tại bản kết luận giám định số: 273/KLGĐ-PC09 ngày 23/3/2020 của Phòng Kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Cây kéo thu tại phòng trọ của Nguyễn Trọng L có thể gây nên vết thương tại vùng lưng trái của nạn nhân.

Quá trình điều tra đã thu giữ mẫu vật, vật chứng: Thu mẫu AND là 05 sợi tóc trên đầu của ông Hoàng Hữu Q được đựng trong bì thư niêm phong; 01 áo phông nam ngắn tay, cổ tròn xanh đen, dài 63cm, phần thân áo dưới rộng 48cm, trong cổ áo có in dòng chữ màu trắng “ARISTINO” size M; 01 áo mưa bằng nilon màu xanh đen, kích thước 1,1m x 0,96m, vị trí mũ áo cách phần cổ áo có 01 vết rách hình chữ L, kích thước 0,02m x 0,01m, dưới vị trí vết rách có bám nhiều chất dịch màu đỏ (nghi máu) diện tích 0,7m x 0,9m, áo mưa đã qua sử dụng; 01 dù che mưa, mặt ngoài màu xanh đen, mặt trong dù màu trắng bạc, không rõ nhãn mác đã qua sử dụng; 01 thanh tre khô, dài 1,37m, đường kính 0,02m; 01 cây kéo dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 11cm, cán bằng nhựa màu đỏ dài 11,5cm; trên lưỡi có khắc chữ “STAINLESS STEEL”; 01 đôi dép quai dép bằng vải màu đen, đế dép bằng xốp màu trắng - đen, kích thước dài 27,5cm, chổ rộng nhất 11cm; 01 áo phông dài tay màu đen, trên cổ áo có tem in dòng chữ “SaiGonese’s Unisex SaiGonest.2019JP”, kích thước 70cm x 45cm, áo đã qua sử dụng; 01 mũ lưỡi trai màu đen, trên mũ có dòng chữ Yankees, mũ đã qua sử dụng; 01 quần Jeen màu bạc, kích thước 98cm x 39cm, đã qua sử dụng; 01 USB màu xanh, hiệu Kingston, bên trong USB có chứa video ghi lại hình ảnh đối tượng Nguyễn Trọng L đi qua quán nhậu Lương Sơn thuộc khu phố 4, phường 1, thành phố Đ vào ngày 08/11/2019. Đối với 01 chìa khóa xe mô tô loại bốn chấu hiệu Union; 01 đôi dép xốp màu đen hiệu Bitis, dép đã qua sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số: 04/QĐ-CSHS bằng hình thức trả lại cho bà Phạm Thị B (vợ bị hại).

Về trách nhiệm dân sự:

Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chi phí điều trị và mai táng là 157.230.000đồng. Trong đó tiền chi phí điều trị, tiền thuốc là: 59.000.000đồng; chi phí mai táng là: 98.230.000đồng; tiền tổn thất tinh thần là: 149.000.000đồng; tiền cấp dưỡng nuôi con cho 03 con của bị hại cho đến khi đủ tuổi thành niên với mức cấp dưỡng hàng tháng là 1.000.000đồng/cháu, phía bị hại yêu cầu cấp dưỡng một lần. Gia đình bị cáo đã bồi thường được cho phía bị hại 35.000.000đồng.

Cáo trạng số: 20/CT-VKS-P2 ngày 22/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng L về tội: “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L từ 11 đến 12 năm tù về tội: “Giết người”.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585 và Điều 591 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 7/8/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Buộc bị cáo phải bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại các khoản tiền sau: Chi phí điều trị: 15.602.000đồng; chi phí mai táng: 74.460.000đồng; tiền tổn thất về tinh thần: 74.500.000đồng, tổng cộng 164.562.000đồng nhưng được khấu trừ khoản tiền mà gia đình bị cáo đã bồi thường là 35.000.000đồng. Ngoài ra, bị cáo phải cấp dưỡng cho 03 đứa con của người bị hại cho đến tuổi thành niên, cụ thể mỗi cháu 1.000.000đồng/tháng.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 áo phông nam ngắn tay, cổ tròn màu xanh đen, dài 63cm, phần thân áo dưới rộng 48cm, trong cổ áo có in dòng chữ màu trắng “ARISTINO” size M;

- 01 áo mưa bằng nilon màu xanh đen, kích thước 1,1m x 0,96m, vị trí mũ áo cách phần cổ áo có 01 vết rách hình chữ L, kích thước 0,02m x 0,01m, dưới vị trí vết rách có bám nhiều chất dịch màu đỏ (nghi máu) diện tích 0,7m x 0,9m, áo mưa đã qua sử dụng;

- 01 dù che mưa, mặt ngoài dù màu xanh đen, mặt trong dù màu trắng bạc, không rõ nhãn mác, dù đã qua sử dụng;

- 01 thanh tre khô dài 1,37m, đường kính 0,02m;

- 01 cây kéo dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 11cm, cán bằng nhựa màu đỏ dài 11,5cm; trên lưỡi có khắc chữ “STAINLESS STEEL”;

- 01 đôi dép quai dép, quai dép bằng vải màu đen, đế dép bằng xốp màu trắng - đen, kích thước dài 27,5cm, chổ rộng nhất 11cm;

- 01 áo phông dài tay màu đen, trên cổ áo có tem in dòng chữ “SaiGonese’s Unisex SaiGonest.2019JP”, kích thước 70cm x 45cm, áo đã qua sử dụng;

- 01 mũ lưỡi trai màu đen, trên mũ có dòng chữ Yankees, mũ đã qua sử dụng;

- 01 quần Jeen màu bạc, kích thước 98cm x 39cm, đã qua sử dụng;

* Chuyển lưu tại hồ sơ vụ án:

- 01 USB màu xanh, 4GB, hiệu Kingston, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Vật chứng trên hiện có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 7 năm 2020)

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Ngày 08/11/2019 tại khu vực vỉa hè Công viên FIDEL (thuộc khu phố B, phường M, thành phố Đ) bị cáo L hái rau khoai lang do ông Hoàng Hữu Q trồng nên giữa 02 bên có tranh cãi, “lời qua tiếng lại” thì L bị ông Q lấy thanh tre ở hàng rào đánh vào người 04 cái, ông Q tiếp tục túm cổ áo bị cáo, do sợ bị đánh tiếp và sẵn cây kéo trên tay phải nên Nguyễn Trọng L đã dùng cây kéo trên tay đâm mạnh ông Q 01 nhát vào phía sau lưng bên trái. Ông Hoàng Hữu Q được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị, sau đó tiếp tục chuyển vào Bệnh viện Trung ương Huế để cấp cứu, đến ngày 15/11/2019 thì ông Q tử vong.

Tại bản kết luận giám định pháp y số: 896/KLGĐ-PC09 ngày 22/11/2019 của Phòng PC 09 Công an tỉnh Quảng Trị, kết luận: Nguyên nhân chết của ông Hoàng Hữu Q do: Mất máu không hồi phục do vết thương thủng động mạch chủ ngực. Cơ chế hình thành vết thương vùng lưng trái: Do vật nhọn tác động từ sau ra trước, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng L đã phạm tội: “Giết người” theo khoản 2 Điều 123 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi của bị cáo không những đã xâm hại đến tính mạng của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, nên cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhằm tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 35.000.000đồng để khắc phục hậu quả. Xét gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nhưng đã cố gắng bồi thường cho bị hại một phần, nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết:“người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi, đã dùng gậy tre đánh bị cáo trước, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chi phí điều trị và mai táng là 157.230.000đồng. Trong đó tiền chi phí điều trị, tiền thuốc là: 59.000.000đồng; chi phí mai táng là: 98.230.000đồng; tiền tổn thất tinh thần là: 149.000.000đồng; tiền cấp dưỡng nuôi con cho 03 con của bị hại cho đến khi đủ tuổi thành niên với mức cấp dưỡng hàng tháng là 1.000.000đồng/cháu, phía bị hại yêu cầu cấp dưỡng một lần.

HĐXX thầy rằng, đối với yêu cầu bồi thường chi phí điều trị số tiền 59.000.000đồng. Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án (Bút lục: 205 - 211) thể hiện: Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị số tiền điều trị 21.589.000đồng trong đó quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán 16.609.000đồng. Tại Bệnh viện TW Huế là 33.486.000đồng trong đó quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán 26.789.000đồng. Vì vậy, chỉ có căn cứ buộc bị cáo phải bồi thường chi phí điều trị tương ứng số tiền gia đình người bệnh phải trả và chi phí hợp lý (như tiền thuốc…) khi người bệnh điều trị là: 59.000.000đồng - (16.609.000đồng + 26.789.000đồng) = 15.602.000đồng.

Tiền mai táng phí người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường là 98.230.000đồng. Thấy rằng, chỉ có cơ sở chấp nhận số tiền 74.460.000đồng. Không chấp nhận số tiền lễ cúng, ăn uống…(đám mở cửa mã): 23.770.000đồng.

Về yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần, xét điều kiện hoàn cảnh già đình của bị cáo. HĐXX thấy, cần chấp nhận số tiền: 75.000.000đồng là phù hợp.

Tng cộng số tiền bồi thường các khoản trên là: 165.062.000 đồng (15.602.000 đồng + 74.460.000 đồng + 75.000.000 đồng).

Chị Lê Thị Thùy T (vợ của bị cáo) và bà Lê Thị Đ (mẹ của bị cáo) đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Phạm Thị B số tiền 35.000.000 đồng. Đây là số tiền chị T và bà Đ tự nguyên bồi thường thay cho bị cáo, nên không có ý kiến gì thêm.

Nên số tiền còn lại bị cáo phải bồi thường là: 130.062.000 đồng (165.062.000 đồng - 35.000.000 đồng)

Ngoài ra, về phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Cần chấp nhận số tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng đối với 03 đứa con của người bị hại đến khi đủ tuổi thành niên, với mức cấp dưỡng là 1.000.000đồng/tháng/cháu.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đối với những vật chứng là 01 áo phông nam ngắn tay, 01 áo mưa bằng nilon màu xanh - đen đã qua sử dụng của bị hại Hoàng Hữu Q tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị tiêu hủy. Nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đi với các vật chứng của bị cáo gồm: 01 dù che mưa, 01 đôi dép, quai dép bằng vải màu đen, 01 áo phông dài tay màu đen, 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 quần Jeen màu bạc đã qua sử dụng. Bị cáo đề nghị tiêu hủy nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Những vật chứng bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và vật chứng không có giá trị sử dụng thì cần tịch thu tiêu hủy gồm: 01 thanh tre khô, 01 cây kéo dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 11cm.

Đi với 01 USB màu xanh, hiệu Kingston, bên trong USB có chứa video ghi lại hình ảnh đối tượng Nguyễn Trọng L đi qua quán nhậu L thuộc khu phố B, phường M, thành phố Đ vào ngày 08/11/2019, đây là vật chứng quan trọng có ý nghĩa trong việc chứng minh tội phạm và nhỏ gọn nên cần chuyển lưu theo hồ sơ vụ án.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo luật định.

[8]. Tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L (tên gọi khác: T) phạm tội: “Giết người”.

Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L: 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/11/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 357, 584, 585 và khoản 1, khoản 2 Điều 591 BLDS xử: Buộc bị cáo Nguyễn Trọng L phải bồi thường cho bà Phạm Thị B, là người đại diện hợp pháp của bị hại các khoản tiền sau:

- Tiền chi phí điều trị: 15.602.000đồng (mười lăm triệu sáu trăm lẻ hai nghìn đồng);

- Tiền chi phí mai táng: 74.460.000đồng (bảy mươi tư triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng);

- Tiền tổn thất về tinh thần: 75.000.000đồng (bảy mươi lăm triệu đồng);

Tng cộng số tiền bồi thường các khoản trên là: 165.062.000 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu không trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

Chị Lê Thị Thùy T và bà Lê Thị Đ đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Phạm Thị B số tiền 35.000.000 đồng. Nên số tiền còn lại bị cáo phải tiếp tục bồi thường là: 130.062.000 đồng (một trăm ba mươi triệu không trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

- Buộc bị cáo phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng đối với 03 đứa con của bị hại, cụ thể:

+ Cấp dưỡng cho cháu Hoàng Thị Phương C, sinh ngày 01/12/2003, mỗi tháng là: 1.000.000đồng (một triệu đồng) cho đến tuổi thành niên;

+ Cấp dưỡng cho cháu Hoàng Phương A, sinh ngày 06/6/2008, mỗi tháng là:

1.000.000đồng (một triệu đồng) cho đến tuổi thành niên;

+ Cháu Hoàng Hữu Đ, sinh ngày 29/12/2012, mỗi tháng là: 1.000.000đồng (một triệu đồng) cho đến tuổi thành niên;

Thời điểm cấp dưỡng cho 03 cháu được tính từ ngày: 15/11/2019.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu tiền lãi chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 áo phông nam ngắn tay, cổ tròn màu xanh đen, dài 63cm, phần thân áo dưới rộng 48cm, trong cổ áo có in dòng chữ màu trắng “ARISTINO” size M;

- 01 áo mưa bằng nilon màu xanh đen, kích thước 1,1m x 0,96m, vị trí mũ áo cách phần cổ áo có 01 vết rách hình chữ L, kích thước 0,02m x 0,01m, dưới vị trí vết rách có bám dính nhiều chất dịch màu đỏ (nghi máu) diện tích 0,7m x 0,9m, áo mưa đã qua sử dụng;

- 01 dù che mưa, mặt ngoài dù màu xanh đen, mặt trong dù màu trắng bạc, không rõ nhãn mác, dù đã qua sử dụng;

- 01 thanh tre khô dài 1,37m, đường kính 0,02m;

- 01 cây kéo dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 11cm, cán bằng nhựa màu đỏ dài 11,5cm; trên lưỡi có khắc chữ “STAINLESS STEEL”;

- 01 đôi dép quai dép, quai dép bằng vải màu đen, đế dép bằng xốp màu trắng - đen, kích thước dài 27,5cm, chổ rộng nhất 11cm;

- 01 áo phông dài tay màu đen, trên cổ áo có tem in dòng chữ “SaiGonese’s Unisex SaiGonest.2019JP”, kích thước 70cm x 45cm, áo đã qua sử dụng;

- 01 mũ lưỡi trai màu đen, trên mũ có dòng chữ Yankees, mũ đã qua sử dụng;

- 01 quần Jeen màu xanh bạc, kích thước 98cm x 39cm, đã qua sử dụng;

* Chuyển lưu tại hồ sơ vụ án:

- 01 USB màu xanh, 4GB, hiệu Kingston, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.

(Vật chứng trên hiện có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 7 năm 2020)

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Trọng L phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 6.503.000đồng (sáu triệu năm trăm lẻ ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2020/HS-ST ngày 16/09/2020 về tội giết người

Số hiệu:21/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quảng Trị
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về