Bản án 21/2020/HN-ST ngày 02/06/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 21/2020/HN-ST NGÀY 02/06/2020 VỀ LY HÔN

Vào ngày 02 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 90/2020/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Châu Thị Hồng D, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị Châu Thị Hồng D có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Công T, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh T vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/02/2020, bản tự khai cũng như đơn yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 04/5/2020 nguyên đơn chị Châu Thị Hồng D có lời trình bày:

Chị và anh Nguyễn Công T tự nguyện kết hôn vào năm 2008 và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà cha mẹ chồng ở ấp P, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre được 7 năm. Sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau về tính cách, thường xuyên cải nhau. Anh T ra ngoài quan hệ bất chính với phụ nữ khác, chị nhiều lần khuyên nhưng anh T không thay đổi, từ đó vợ chồng lạnh nhạt, không hạnh phúc. Chị đã về cha mẹ ruột sống vào năm 2016 và từ đó đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Đoàn Châu T, sinh ngày 31/7/2005 và Nguyễn Đoàn Đình T, sinh ngày 24/02/2011. Từ ngày anh chị sống ly thân 02 con sống chung với chị, nhưng anh T vẫn đến thăm con và chu cấp cho con đều đặng. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, trong đơn chị có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 02 con mỗi tháng 3.000.000đ, nay chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật nhưng chị hy vọng anh T vẫn chu cấp cho 02 con như trước đây để 02 con con cuộc sống tốt hơn chứ một mình chị không thể nuôi 02 con đầy đủ.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Công T trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh T đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh T.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về tố tụng: Chị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh T đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án: căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn trong đơn khời kiện cũng như tại bản tự khai, ý kiến của gia đình bị đơn và những chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện hôn nhân của chị D và anh T về đời sống chung đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị D. Về con chung: Nguyễn Đoàn Châu T, sinh ngày 31/7/2005 và Nguyễn Đoàn Đình T, sinh ngày 24/02/2011 chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 phù hợp với nguyện vọng của hai cháu, ghi nhận việc chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Chị D cho rằng không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt của chị D được xem xét tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về tố tụng: chị Châu Thị Hồng D và anh Nguyễn Công T tự nguyện kết hôn ngày 04/9/2008 và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh Nguyễn Công T là bị đơn trong vụ án, có hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh T đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Hồng D Hội đồng xét xử nhận thấy: chị Hổng D trình bày sau khi kết hôn, cuộc sống gia đình hạnh phúc được 7 năm. Từ năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau về tính cách và anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữa khác. Vợ chồng hay cải nhau không còn hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2016. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử xét thấy, việc xảy ra mâu thuẫn giữa chị Hồng D và anh T là có thật vào năm 2016. Mâu thuẩn phát sinh do anh chị bất đồng quan điểm, không dung hòa được. Theo xác nhận của người thân từ gia đình anh T thì anh chị thường xuyên cải nhau, gia đình không dàn xếp được, cả hai không có tiếng nói chung và cũng đã không còn sống chung từ nhiều năm qua, nhưng ly hôn là chuyện của hai người gia đình không ý kiến. Từ những chứng cứ trên đây, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẩn vợ chồng giữa chị D và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị D được ly hôn với anh T, nhận định này phù hợp với lời đề nghị của kiểm sát viên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D là có căn cứ.

[5] Về con chung: chị D và anh T có 02 con chung là Nguyễn Đoàn Châu T, sinh ngày 31/7/2005 và Nguyễn Đoàn Đình T, sinh ngày 24/02/2011. Từ ngày anh chị không sống chung thì 02 con sống với chị D. Khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con, phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu được sống chung với mẹ nên được chấp nhận. Tại bản tự khai ngày 04/5/2020 chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 02 con theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên chị D cho rằng từ ngày anh chị sống ly thân anh T vẫn chu cấp cho 02 con chu đáo, chị hy vọng anh T vẫn thực hiện việc chu cấp cho các con như trước để 02 con có cuộc sống tốt hơn. Việc chăm sóc và nuôi dạy con chung là trách nhiệm của cha mẹ sau khi ly hôn, chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật Hội đồng xét xử ghi nhận nên không xét đến.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: chị D khai không có nên Tòa án không xét đến.

[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng chị D phải nộp.

[8] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Châu Thị Hồng D được ly hôn với anh Nguyễn Công T.

2. Về con chung: chị Hồng D được quyền tiếp tục nuôi 02 con là Nguyễn Đoàn Châu T, sinh ngày 31/7/2005 và Nguyễn Đoàn Đình T, sinh ngày 24/02/2011. Ghi nhận việc chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo pháp luật.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung; nợ chung: chị D khai không có nên không xem xét

4. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị D phải nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng. Số tiền án phí của chị D được trừ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009810 ngày 03 tháng 3 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị D đã nộp đủ án phí.

Đương sự vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2020/HN-ST ngày 02/06/2020 về ly hôn

Số hiệu:21/2020/HN-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/06/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về