Bản án 21/2020/HNGĐ-ST ngày 25/05/2020 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 21/2020/HNGĐ-ST NGÀY 25/05/2020 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình, thụ lý số: 612/2019/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2019, về việc: “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà NguyễnThị H1 – sinh năm: 1989 (có mặt) Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

Bị đơn: Ông Giang Mạnh H2 – sinh năm: 1987 (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.

Chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về quan hệ hôn nhân:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà H1 và ông Giang Mạnh H2 chung sống năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND x L, huyện L. Trước khi chung sống có tìm hiểu thời gian khoảng 06 tháng. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, thường cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay bà H1 xin ly hôn với ông H2.

Về con chung: Có 02 con tên Giang Minh H3 – sinh ngày 03/8/2011 và Giang Tú A sinh ngày 05/7/2016. Khi ly hôn bà H1 để ông H2 nuôi con tên H3, còn bà H1 nuôi con tên Tú A, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Bà H1 và ông H2 không nợ ai và không ai nợ lại.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 29/4/2020, bị đơn ông Giang Mạnh H2 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn cho vợ chồng ông H2.

Về con chung: Có 02 con tên Giang Minh H3 – sinh ngày 03/8/2011 và Giang Tú A – sinh ngày 05/7/2016. Khi ly hôn ông H2 nuôi con tên H3, còn bà H1 nuôi con tên Tú A Về tài sản chung: Không có.

Về nợ: Ông H2 và bà H1 không nợ ai và không ai nợ lại.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật, xác định đúng và đầy đủ tư cách đương sự. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H1.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H1 được ly hôn với ông Giang Mạnh H2.

Về con chung: Ông H2 nuôi con tên Giang Minh H3– sinh ngày 03/8/2011. Bà H1 nuôi con tên Giang Tú A – sinh ngày 05/7/2016, không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ: Không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị H1 có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết ly hôn với ông Giang Mạnh H2 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn là ông Giang Mạnh H2 vắng mặt, tuy nhiên có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà H1 xác định không còn tình cảm với ông H2 nên vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với ông H2. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian chung sống giữa bà H1 và ông H2 phát sinh mâu thuẫn, theo bà H1 do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay. Lời khai của ông H2 tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 29/4/2020 có trong hồ sơ yêu cầu được giải quyết ly hôn với bà H1. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa bà H1 và ông H2 đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được:

Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà H1 được ly hôn với ông H2.

Về con chung: Có 02 con tên Giang Minh H3 – sinh ngày 03/8/2011 và Giang Tú A – sinh ngày 05/7/2016. Khi ly hôn bà H1 và ông H2 thống nhất bà H1 nuôi con tên Tú A, ông H2 nuôi con tên H3, không bên nào cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là phù hợp nên cần ghi nhận.

Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về nợ: Không có nên không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà H1 phải chịu số tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Điều 39 của Bộ luật dân sự:

- Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình:

- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 và khoản 2 Điều 227, khoản 1, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự:

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H1:

1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H1 được ly hôn với ông Giang Mạnh H2.

2.Về con chung: Bà H1 nuôi con tên Giang Tú A – sinh ngày 05/7/2016. Ông H2 nuôi con tên Giang Minh H3 – sinh ngày 03/8/2011. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3.Về tài sản chung: Không có.

4.Về nợ: Không có.

5. Về án phí: Bà H1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0000732 ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2020/HNGĐ-ST ngày 25/05/2020 về xin ly hôn

Số hiệu:21/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lộc Ninh - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về