Bản án 21/2019/HS-ST ngày 19/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 21/2019/HS-ST NGÀY 19/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 8 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2019/TLST-HS ngày 05/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HS ngày 05/8/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L, tên gọi khác: Ngô Thị L; sinh năm 1964 tại Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Ngô Văn K và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết), có chồng đã ly hôn, có 03 con; lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1992;

Tiền án: Không có;

Tiền sự: Ngày 17/12/2018 bị Công an huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong ngày 17/12/2018.

Quá trình nhân thân: Ngày 24/6/1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; ngày 27/9/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; 06/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 07/11/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 30/6/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 12/11/2016. Bị cáo đã thi hành xong các bản án.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/4/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Trần Thị Thu D, sinh năm 1970; nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn Cam Lộ, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Lê Hữu N, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

+ Bà Phạm Thị B, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

+ Chị Lê Thùy T, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu phố M, thị trấn C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 13 giờ 30 phút ngày 29/3/2019, Nguyễn Thị L (Ngô Thị L) điều khiển xe môtô biển kiểm soát 74FD – 4038 (xe của anh Phạm Văn S) đi từ xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh vào chợ Ngô Đồng, huyện Cam Lộ để bán đu đủ. Sau khi bán xong, khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày L đến đại lý gạo Tín Nghĩa của bà Trần Thị Thu D tại thị trấn Cam Lộ để mua gạo. Khi vào bên trong, thấy không có người trông coi L đã nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đến vị trí các bao gạo dùng tay kéo 02 bao gạo bên ngoài có dòng chữ “thơm Thái” xuống (mỗi bao có khối lượng 10 kg), rồi bưng ra bỏ vào bao gai màu xanh có sẵn để trong giỏ xách, điều khiển xe chạy về hướng Đông Hà. Khi đi được khoảng 200m thì trời mưa, L dừng xe lấy 02 bao gạo bỏ vào bao gai màu vàng rồi để tại hiên quán cơm Hà Ly ở thị trấn Cam Lộ để đi mua áo mưa thì bị phát hiện và bắt giữ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 16/KL-GĐTS ngày 18/4/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Cam Lộ kết luận: Gạo “thơm Thái” (đóng bao) số lượng 20 kg trị giá 240.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS-CL ngày 02/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L (Ngô Thị L) về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L (Ngô Thị L) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy:

+ 01 (một) bao gai màu vàng rộng 0,55m; dài 1m; trên bề mặt bao có chữ URAE (URê) màu đen, bao đã qua sử dụng.

+ 01 (một) bao gai màu xanh rộng 0,60m; dài 0,80m; trên miệng bao bị rách để lại những sợi gai tua ra, bao đã qua sử dụng.

+ 01 (một) giỏ xách bằng nhựa màu đỏ, loại giỏ vuông kích thước 0,42 m x 0,20m. Mặt dưới đáy giỏ có dòng chữ VI HƯNG PLASTIC (Giỏ xách VLNO 6192; giỏ có hai quai xách phía trên, đã qua sử dụng).

- Lưu giữ hồ sơ vụ án 01 USB;

- Trả lại cho ông Phạm Văn S 01 chiếc xe môtô, biển số 74FD-4038, nhãn hiệu FERROLI, loại hai bánh dưới 50m3, số loại 50-IE, màu sơn đen; số khung: RRKWCB2UM8XB30513; số máy: VTT29YX1P39FMB030513, xe đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh và khung hình phạt:

Căn cứ vào lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người tham gia tố tụng và những tài liệu chứng cứ khác có căn cứ xác định:

Ngày 17/12/2018, Bị cáo Nguyễn Thị L (Ngô Thị L) bị Công an huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 17/12/2018. Đến ngày 29/3/2019, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà Trần Thị Thu D giá trị: 240.000 đồng hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định tội “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Điều luật có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[2]Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Tình tiết tăng nặng: Không có; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo là người có công với Nước (bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất) là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm. Nhưng cũng xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt (theo Nghị quyết số 02/1018, ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Tối Cao) có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 chiếc xe môtô, biển số 74FD-4038, nhãn hiệu FERROLI, loại hai bánh dưới 50m3, số loại 50-IE, màu sơn đen; số khung: RRKWCB2UM8XB30513; số máy: VTT29YX1P39FMB030513, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định được xe này của anh Phạm Văn Sỹ, là con của bị cáo mua lại của anh Hồ Ngọc Đức, bị cáo sử dụng xe này đi trộm cắp tài sản anh Sỹ không biết nên cần trả lại tài sản này cho anh Phạm Văn Sỹ căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Người bị hại bà Trần Thị Thu D đã nhận lại tài sản là 02 bao gạo, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đi với vật chứng gồm: 01 (một) bao gai màu vàng rộng 0,55m; dài 1m; trên bề mặt bao có chữ URAE (URê) màu đen, bao đã qua sử dụng; 01 (một) bao gai màu xanh rộng 0.60m, dài 0.80m trên miệng bao bị rách để lại những sợi gai tua ra, bao đã qua sử dụng; 01 (một) giỏ xách bằng nhựa màu đỏ, loại giỏ vuông kích thước 0.42 m x 0.20m. Mặt dưới đáy giỏ có dòng chữ VI HƯNG PLASTIC, Giỏ xách VLNO 6192 có hai quai xách phía trên, đã qua sử dụng là vật chứng dùng vào việc phạm tội và không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy căn cứ vào điểm c, khoản 2 Điều 106 BLTTH (Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án huyện Cam Lộ, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2019 của Chi cục thi hành dân sự huyện Cam Lộ).

Đi với 01 USB chị Lê Thùy Trang nộp tại cơ quan Công an, chị Trang không yêu cầu nhận lại mà để phục vụ điều tra nên lưu hồ sơ vụ án.

[5] Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm c, khoản 2; điểm b, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L (Ngô Thị L) phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L (Ngô Thị L): 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/8/2019).

Giao bị cáo Nguyễn Thị L (Ngô Thị L) cho UBND xã V, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã V, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng:

Trả lại cho anh Phạm Văn S: 01 chiếc xe mô tô, biển kiểm soát 74FD-4038, nhãn hiệu FERROLI, loại hai bánh dưới 50m3, số loại 50-IE, màu sơn đen; số khung: RRKWCB2UM8XB30513; số máy: VTT29YX1P39FMB030513, xe đã qua sử dụng.

Tch thu và tiêu hủy: 01 (một) bao gai màu vàng rộng 0,55m; dài 1m; trên bề mặt bao có chữ URAE (URê) màu đen, bao đã qua sử dụng; 01 (một) bao gai màu xanh rộng 0.60m, dài 0.80m trên miệng bao bị rách để lại những sợi gai tua ra, bao đã qua sử dụng; 01 (một) giỏ xách bằng nhựa màu đỏ, loại giỏ vuông kích thước 0.42 m x 0.20m. Mặt dưới đáy giỏ có dòng chữ VI HƯNG PLASTIC, Giỏ xách VLNO 6192 có hai quai xách phía trên, đã qua sử dụng.

(Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án huyện Cam Lộ, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/7/2019 của Chi cục thi hành dân sự huyện Cam Lộ).

u hồ sơ vụ án 01 USB hiệu Kingston màu đỏ.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị L (Ngô Thị L) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2019/HS-ST ngày 19/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:21/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đông Hà - Quảng Trị
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 19/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về