Bản án 21/2018/HS-ST ngày 06/06/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 21/2018/HS-ST NGÀY 06/06/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 06/06/2018, tại Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2018/TLST-HS ngày 16/05/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXXST-HS ngày 25/05/2018, đối với bị cáo:

Vũ Văn H, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn X, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học phổ thông: 6/12; không nghề nghiệp; con ông Vũ V, sinh năm 1963 và bà Nguyễn T, sinh năm 1965; gia đình có 04 anh em, bị cáo thứ 3; không tiền án, tiền sự; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Người bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; trú tại Thôn X, xã V,huyện G, tỉnh Bắc Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 07/03/2018, tại Thôn X, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh bị cáo Vũ Văn H lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại OPPO của chị Nguyễn Thị H. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G, tỉnh Bắc Ninh định giá chiếc điện thoại trên trị giá 2.033.000đ.

Cáo trạng số: 20/CTr-VKS, ngày 15/05/2018 của Viện kiểm sát nhân dânhuyện G, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị cáo khai: Vào ngày, giờ nêu trên bị cáo sang nhà chị Nguyễn Thị H chơi quan sát thấy không có ai ở nhà, bị cáo đã vào nhà lấy 01 điện thoại di động OPPO mang về; khi lấy được điện thoại đi ra đến cửa thì chị Nguyễn Thị H phát hiện hô hoán đuổi theo bị cáo, bị cáo chạy mọi người không đuổi được. Sau đó bị cáo đến Công an huyện G, tỉnh Bắc Ninh đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại chiếm đoạt được của chị Nguyễn Thị H.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, buộc tội bị cáo về tội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

- Khoản 1 Điều 173, Điều 65, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng và bản luận tội của Viện kiểm sát đã nêu; không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu được và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 19 giờ ngày 07/03/2018, tại Thôn X, xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh bịcáo Vũ Văn H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại OPPO, trị giá 2.033.000đ của chị Nguyễn Thị H.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét thấy bị cáo sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; không tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện giao nộp tài sản để trả cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nơi thường trú cụ thể rõ ràng; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo.

 [2]. Người bị hại là chị Nguyễn Thị H đã nhận được tài sản do bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[3]. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc tội bị cáo về tội đã truy tố, đề nghị mức hình phạt là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 173, Điều 65, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

- Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử phạt bị cáo:

Vũ Văn H 06 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện G, tỉnh Bắc Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


44
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2018/HS-ST ngày 06/06/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:21/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gia Bình - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 06/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về