Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 18/04/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 21/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/04/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 18 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2017/TLST-HNGĐ, ngày 30/10/2017 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/3/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hà Thị Kim A - sinh năm 1994; cư trú tại: Khu 07, xã T,huyện C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H - sinh năm 1993; cư trú tại: Khu 05, xã T,huyện C,  tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 03/10/2017 và lời khai tại Toà án, nguyên đơn là chị Hà Thị Kim A trình bày: Chị Anh kết hôn với anh Nguyễn Văn H ngày 02/01/2015 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng ở chung với bố mẹ đẻ của anh H tại xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ và làm lao động tự do. Quá trình chung sống, vợ chồng  hòa thuận  hạnh  phúc được  khoảng  01  tháng  thì  phát  sinh  mâu  thuẫn. Nguyên nhân do anh H ham chơi, lười lao động và thường xuyên đánh chửi chị A. Mặc dù đã được hai bên gia đình và chính quyền địa phương khuyên giải nhiều lần nhưng anh H vẫn không thay đổi. Do mâu thuẫn trầm trọng, nên từ khoảng tháng 02 năm 2015 đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị A yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập nhiều lần, phối hợp với chính quyền địa phương nơi anh Nguyễn Văn H cư trú để trực tiếp gặp làm việc, nhưng anh H cố tình lẩn tránh. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi anh H cư trú nhưng anh H vẫn không hợp tác và không có mặt, nên Tòa án không thu thập được quan điểm của anh H.

Về con chung: Chị Hà Thị Kim A trình bày vợ chồng không có con chung. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức: Chị Hà Thị Kim A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm và xác định:

Về tố tụng dân sự: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định pháp luật. Bị đơn chưa nghiêm túc chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, cố tình vắng mặt không có lý do, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147; khoản 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Kim A được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

- Về án phí: Chị Hà Thị Kim A phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Hà Thị Kim A và anh Nguyễn Văn H đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên đó là hôn nhân hợp pháp. Kết quả thu thập chứng cứ và lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa cho thấy nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn vợ chồng là do anh H ham chơi, lười lao động và thường xuyên về đánh chửi chị A. Từ khoảng tháng 02 năm 2015 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm tới nhau. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng trong thực tế không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị A xin ly hôn anh H là có căn cứ, cần chấp nhận.

[2]. Về con chung: Chị Hà Thị Kim A trình bày vợ chồng không có con chung nên không đề cập giải quyết.

[3]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức: Chị Hà Thị Kim Akhông  yêu cầu, nên không đề cập giải quyết.

[4]. Về án phí: Chị Hà Thị Kim A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc lyhôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Kim A được ly hôn anh Nguyễn Văn H.

2. Về án phí: Chị Hà Thị Kim A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/0002570 ngày 30/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CẩmKhê. Chị A đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Hà Thị Kim A có mặt được quyền kháng cáo đến Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Anh Nguyễn Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản ánđược giao cho anh H hoặc được niêm yết.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 18/04/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:21/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Khê - Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về