Bản án  21/2018/HNGĐ-ST ngày 10/05/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 21/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/05/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 10 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 253/2017/TLST - HNGĐ ngày 17/10/2017 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Anh Bùi Văn S, sinh năm 1971,(Có mặt)

2.Bị đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1972,(Có mặt)

Đều trú tại: Thôn Bàn M, xã Phú T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 15/9/2017 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Bùi Văn S trình bày:

Anh kết hôn với chị Lê Thị H ngày 08/12/1993, trước khi cưới có tìm hiểu và ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau ngày cưới chị về làm dâu ngay và ở chung cùng gia đình chồng được khoảng 01 năm thì vợ chồng ra ở riêng. Tình cảm vợ chồng ban đầu bình thường nên đã sinh được 02 con chung. Đến năm 2011 anh và chị H vào Nam làm ăn, Trong thời gian làm ăn ở trong Nam chị H có quan hệ bất chính với anh T (là anh em kết nghĩa với anh) quê ở Bến T. Anh bắt gặp hai người quan hệ tình cảm với nhau, anh khuyên bảo chị nhưng chị không nghe mà còn đuổi anh về Quê, nên năm 2011 anh về quê ở xã Phú T làm ăn còn chị vẫn ở trong Nam làm ăn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn xin được ly hôn chị H.

Bị đơn chị Lê Thị H trình bày: Chị thừa nhận thời gian kết hôn và quá trình chung sống như anh S trình bày là đúng. Còn nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ở trong Nam anh S có đánh chị dẫn đến mâu thuẫn và chị không ngoại tình như anh S khai. Vợ chồng sống ly thân từ 2015 đến nay chứ không phải sống ly thân từ năm 2011 đến nay như anh Sứng trình bày. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nhưng anh S xin ly hôn chị không nhất trí vì chị sợ con chị khổ, chị đề nghị cứ để nguyên vợ chồng sống ly thân như hiện nay.

Về con chung anh S chị H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Bùi Văn S sinh ngày 23/10/1994 và Bùi Văn Tiến D sinh ngày 19/01/2001. Hiện tại hai cháu đang ở với anh S, chị H. Cháu S không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, được Nhà nước trợ cấp hàng tháng. Ly hôn anh S chị H thỏa thuận để chị H  trực tiếp nuôi dưỡng cháu S và cháu D, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, đất canh tác, công sức: Anh S chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Anh S xin miễn án phí ly hôn sơ thẩm vì anh là hộ nghèo.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V trình bày quan điểm như sau:

Về tố tụng: Quá trình nhận đơn, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ Thẩm phán đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự; Tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, Người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện V không có yêu cầu hay kiến nghị gì.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51,

56, 71, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho anh Bùi Văn S được ly hôn chị Lê Thị H. Về con chung giao cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Văn Tiến D sinh ngày 19/01/2001, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, đất canh tác, công sức anh S, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Về án phí, anh S không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho anh S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Anh Bùi Văn S có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện V giải quyết việc hôn nhân của anh và chị H theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V.

[2] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Anh Bùi Văn S kết hôn với chị Lê Thị H trên cơ sở tự nguyện, trước khi cưới có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do mâu thuẫn cãi nhau dẫn đến rạn nứt tỉnh cảm, hiện tại cả anh và chị đều xác nhận tình cảm vợ chồng không còn và sống ly thân. Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh chị ly hôn để các bên có điều kiện ổn định cuộc sống riêng của mình.

Về con chung: Anh S chị H thỏa thuận để chị H trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục cháu  Bùi  Văn S  sinh  ngày 23/10/1994  và  Bùi  Văn  Tiến  D sinh  ngày

19/01/2001, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy cháu S hiện đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình và thỏa thuận của anh chị là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên cần chấp nhận thỏa thuận này của anh chị.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, đất canh tác, công sức: Anh S, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí sơ thẩm: Anh Bùi Văn S thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Chính phủ nên không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, 56, 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban  thường vụ Quốc hội  ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.Xử:

- Cho anh Bùi Văn S được ly hôn chị Lê Thị H

- Về con chung giao cho chị Lê Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Văn S sinh ngày 23/10/1994 đến khi cháu S có khả năng lao động và có tài  sản  để  tự  nuôi  mình và cháu Bùi Văn Tiến D sinh ngày 19/01/2001 đến khi cháu D thành niên. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, đất canh tác, công sức: Anh Bùi Văn S và chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Anh Bùi Văn S không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Hoàn trả lại cho anh Bùi Văn S 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0003853 ngày 17/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V.

"Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án  21/2018/HNGĐ-ST ngày 10/05/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:21/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về