Bản án 211/2020/HS-ST ngày 27/07/2020 về tội môi giới mại dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 211/2020/HS-ST NGÀY 27/07/2020 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 27 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 208/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Đỗ Văn T, sinh năm 1993; HKTT: thôn H, thị trấn K, huyện, tỉnh B; Chỗ ở: số .., ngõ .., quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Văn T1 (sinh năm 1970) và bà: Đỗ Thị N (sinh năm 1973); Có vợ là Nguyễn Thị H (sinh năm 1993); Có 01 con: sinh năm 2015;

Danh chỉ bản số 327, lập ngày 12/3/2020 tại Công an quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 44/2016/HSST ngày 27/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 8 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 4 tháng kể từ ngày 27/7/2016 về tội “Đánh bạc” (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/3/2020, tạm giam từ ngày 19/3/2020; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Hà Thị Th, sinh năm 1995; HKTT: xã K, huyện A, tỉnh H; Chỗ ở: số .., ngõ .., phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).

- Chị Phạm Thị Diễm T2, sinh năm 1998; HKTT: Khu .., xã P, thị xã T, tỉnh P; Chỗ ở: tổ 41, phường T, quận H, thành phố Hà Nội (xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 30 phút ngày 10/03/2020, tổ công tác Công an phường Hoàng Văn Thụ kiểm tra hành chính tại phòng 201 nhà nghỉ An Phú - số 17, lô 5 Đền Lừ I, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội, phát hiện một đôi nam nữ đang có quan hệ tình dục mua bán dâm là Lê Văn H (sinh năm 1988, HKTT và chỗ ở: Tổ 11, Hoàng Mai, Hà Nội) và Phạm Thị Diễm T2. Tiếp tục kiểm tra phòng 302 của nhà nghỉ, phát hiện Đinh Công T (sinh năm 1983, HKTT: huyện T, Hà Nội; Chỗ ở: Tổ 41, quận Hoàng Mai, Hà Nội) đang có hành vi quan hệ tình dục với Hà Thị Th. Quá trình kiểm tra, các đối tượng Hà Thị Th và Phạm Thị Diễm T2 khai nhận Th và T2 là gái ngồi bàn tại các quán Karaoke dưới sự quản lý của Đỗ Văn T. Việc Th và T2 đi bán dâm phải được sự đồng ý của T và sau mỗi lần đi bán dâm về T2 và Th phải nộp lại 400.000 đến 500.000 đồng cho T.

Căn cứ lời khai của Hà Thị Th, Phạm Thị Diễm T2, cơ quan điều tra đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Văn T. Qua điều tra đã xác định được hành vi của Đỗ Văn T như sau:

Đỗ Văn T là người quản lý sắp xếp cho Hà Thị Th và Phạm Thị Diễm T2 đi ngồi phục vụ tại các quán hát. Mỗi lần đi ngồi phục vụ bàn hát karaoke thì Th và T2 phải đưa lại cho T 100.000 đồng. Quá trình ngồi hát nếu khách rủ đi mua bán dâm thì Th và T2 phải thông báo cho T biết. Mỗi lần bán dâm cho khách thì Th và T2 phải đưa về cho T số tiền là 400.000 đồng (đi tàu nhanh), nếu đi qua đêm với khách thì phải đưa cho T 500.000 đồng.

Khoảng 22 giờ ngày 09/3/2020, Lê Văn H và Đinh Công T tới 29 Trung Kính gặp Hà Thị Th và Phạm Thị Diễm T2, H và T rủ Th và T2 đi ăn, quá trình đi ăn H và T muốn mua dâm của Th và T2, Th đồng ý bán dâm cho T, T2 đồng ý bán dâm cho H. Qua thỏa thuận, T và H sẽ phải trả cho Th và T2 mỗi người 5.000.000đồng/1 lần bán dâm qua đêm.

Sau khi thỏa thuận xong với khách, T2 nhắn tin, gọi điện xin phép Đỗ Văn T cho T2 và Th đi bán dâm qua đêm. T đồng ý cho Th và T2 được đi. Sau đó, Th, H, T, T2 tới nhà nghỉ An Phú địa chỉ tại 17, lô 5 Đền Lừ 1, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội, T và Th lên phòng 302; H và T2 lên phòng 201 thực hiện hành vi mua bán dâm. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/3/2020 các đối tượng đang có hành vi mua bán dâm với nhau thì bị tổ công tác Công an phường Hoàng Văn Thụ kiểm tra bắt giữ. Tổ công tác lập biên bản và đưa những người liên quan về trụ sở làm rõ.

Tại cơ quan điều tra, Đỗ Văn T khai nhận phù hợp với lời khai của Phạm Thị Diễm T2, Hà Thị Th: T2 khai phải được sự đồng ý của T thì nhân viên mới được đi bán dâm, còn tiền bán dâm do nhân viên tự thỏa thuận với khách, T không can thiệp và không cần biết khách là ai, ở đâu. T quy định đối với các gái bán dâm mỗi lần đi bán dâm tàu nhanh chuyển lại cho T 400.000 đồng, còn đi qua đêm chuyển lại cho T 500.000 đồng.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàng Mai đã thu giữ của Đỗ Văn T và các đối tượng các vật chứng có liên quan đến vụ án gồm:

+ Thu giữ của Đỗ Văn T: 01 quyển sổ kế toán màu vàng ngoài bìa có ghi chữ “Sổ Chốt” và 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu hồng, số IMEI: 354838092740013.

+ Thu giữ của Phạm Thị Diễm T2: 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu vàng, số IMEI: 354388065893407 và số tiền 5.000.000 đồng (là tiền T2 bán dâm cho khách).

+ Thu giữ của Hà Thị Th: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng, số IMEI: 359474082204649 và số tiền 5.000.000 đồng (là tiền Th bán dâm cho khách).

+ Thu giữ của Đinh Công T: 01 bao cao su đã qua sử dụng.

+ Thu giữ của Lê Văn H: 01 bao cao su đã qua sử dụng.

Đối với quyển sổ chốt thu giữ của T, Đỗ Văn T khai nhận nội dung ghi chép bên trong lưu giữ những lần Hà Thị Th ngồi bàn tiếp bia rượu tại quán Karaoke và đi bán dâm cho khách qua đêm hoặc tàu nhanh, cụ thể như sau:

- Ngày 28/01/2020: Th bán dâm 01 lần tàu nhanh được 2.000.000 đồng, đã cắt tiền hoa hồng cho T 400.000 đồng.

- Ngày 29/01/2020: Th bán dâm 01 lần tàu nhanh được 2.000.000 đồng, đã cắt tiền hoa hồng cho T 400.000 đồng.

- Ngày 30/01/2020: Th bán dâm 01 lần tàu nhanh được 2.000.000 đồng, đã cắt tiền hoa hồng cho T 400.000 đồng.

- Ngày 31/01/2020: Th bán dâm 01 lần tàu nhanh và 01 lần qua đêm được 4.800.000 đồng, đã cắt tiền hoa hồng cho T 900.000 đồng.

- Ngày 01/02/2020: Th bán dâm 01 lần qua đêm được 2.800.000 đồng, đã cắt tiền hoa hồng cho T 500.000 đồng.

- Ngày 02/02/2020: Th bán dâm 01 lần qua đêm, đã cắt tiền hoa hồng cho T 500.000 đồng.

- Ngày 04/02/2020: Th bán dâm 01 lần tàu nhanh, đã cắt tiền hoa hồng cho T 400.000 đồng.

- Ngày 05/02/2020: Th bán dâm 01 lần qua đêm, đã cắt tiền hoa hồng cho T 500.000 đồng.

- Ngày 06/02/2020: Th bán dâm qua đêm đã cắt tiền hoa hồng cho T 500.000 đồng.

- Ngày 07/02/2020: Th bán dâm qua đêm đã cắt tiền hòa hồng cho T 500.000 đồng.

- Ngày 09/02/2020: Th bán dâm tàu nhanh, đã cắt tiền hoa hồng cho T 400.000 đồng.

- Ngày 11/02/2020: Th bán dâm tàu nhanh và bán dâm qua đêm được 4.800.000 đồng và cắt cho T 900.000 đồng.

- Ngày 12/02/2020: Th bán dâm qua đêm 01 lần và cắt cho T 500.000 đồng.

- Ngày 13/02/2020: Th bán dâm qua đêm và cắt lại cho T 500.000 đồng.

- Ngày 14/02/2020: Th bán dâm cho khách và cắt cho T 500.000 đồng.

- Ngày 15/02/2020: Th bán dâm qua đêm và cắt cho T 500.000 đồng.

- Ngày 16/02/2020: Th bán dâm qua đêm cho khách và cắt cho T 500.000 đồng tiền hoa hồng.

- Ngày 17/02/2020: Th bán dâm qua đêm, cắt tiền hoa hồng cho T 500.000 đồng.

- Ngày 18/02/2020: Th bán dâm tàu nhanh, cắt tiền hoa hồng cho T 400.000 đồng. (BL 44a, b) Như vậy, từ ngày 28/01/2020 đến ngày 18/02/2020, Đỗ Văn T đã nhận tiền từ việc cho phép Th đi bán dâm là 19 lần, hưởng lợi số tiền là 9.700.000 đồng. Hà Thị Th thừa nhận nội dung những ghi chép trong sổ chốt của T là hoàn toàn đúng.

Đối với chiếc điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng thu giữ của T, T khai sử dụng liên lạc cá nhân, liên lạc trao đổi với Th, T2 về việc đi bán dâm, ngồi bàn.

Công an quận Hoàng Mai đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng có hành vi mua dâm là Lê Văn H và Đinh Công T về hành vi mua dâm theo khoản 1 Điều 22 Nghị định 167/2013 ngày 12/11/2013, mức phạt 750.000 đồng.

Công an quận Hoàng Mai đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Hà Thị Th và Phạm Thị Diễm T2 về hành vi bán dâm theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 167/2013 ngày 12/11/2013, mức phạt 200.000 đồng.

Đối với chủ nhà nghỉ An Phú là anh Nguyễn Tiến L có giấy phép kinh doanh dịch vụ lưu trú do đã tự phát hiện hành vi vi phạm của các đối tượng mua bán dâm trình báo với cơ quan công an nên không tiến hành xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 197/CT-VKSHM ngày 09 tháng 6 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Đỗ Văn T về tội Môi giới mại dâm theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn T khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt Đỗ Văn T từ 4 năm 6 tháng đến 5 năm tù về tội Môi giới mại dâm; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đỗ Văn T.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng, số imei: 354838092740013, đã qua sử dụng của T và số tiền 10.000.000 đồng thu giữ của Phạm Thị Diễm T2, Hà Thị Th. Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su, đã qua sử dụng. Trả lại 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng, số imei: 354388065893407, đã qua sử dụng cho Phạm Thị Diễm T2 và 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng, số imei: 359474082204649, đã qua sử dụng cho Hà Thị Th. Buộc bị cáo phải truy nộp số tiền 9.700.000 đồng do phạm tội mà có.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/03/2020, Đỗ Văn T có hành vi làm trung gian, tạo điều kiện để Phạm Thị Diễm T2, Hà Thị Th đi bán dâm cho Lê Văn H, Đinh Công T tại nhà nghỉ An Phú, địa chỉ tại số 17, lô 5 Đền Lừ I, phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội nhằm được hưởng tiền mua dâm từ khách bán dâm. Khi Lê Văn H, Phạm Thị Diễm T2 đang có quan hệ tình dục mua bán dâm tại phòng 201 và Đinh Công T, Hà Thị Th đang có quan hệ tình dục mua bán dâm tại Phòng 302 thì bị tổ công tác Công an phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai kiểm tra, phát hiện và thu giữ tang vật.

Trước đó, trong khoảng thời gian từ ngày 28/01/2020 đến ngày 18/2/2020 Đỗ Văn T có hành vi làm trung gian, tạo điều kiện để Hà Thị Th nhiều lần đi bán dâm cho khách tại nhà nghỉ, hưởng lợi bất chính số tiền là 9.700.000 đồng.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Môi giới mại dâm theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm đến đạo đức xã hội, nếp sống văn minh, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, sức khỏe con người và là nguyên nhân phát sinh những loại tội phạm khác trong xã hội nên cần phải đấu tranh, ngăn chặn. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Văn T thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo Đỗ Văn T có 01 tiền án, tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo đã được các cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, chứng tỏ bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém và có nhân thân xấu nên phải xử lý nghiêm khắc.

[6] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đỗ Văn T là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về các biện pháp tư pháp:

- Đối với tang vật của vụ án là 02 bao cao su, đã qua sử dụng, không có giá trị sử dụng và liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, số imei: 354838092740013, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Đỗ Văn T là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội và số tiền 10.000.000 đồng thu giữ của của chị T2, chị Th là tiền mua bán dâm, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu vàng, số imei: 354388065893407, đã qua sử dụng thu giữ của chị Phạm Thị Diễm T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số imei: 359474082204649, đã qua sử dụng thu giữ của chị Hà Thị Th là tài sản cá nhân của chị T, chị Thành, nên trả lại cho chị T2, chị Th - Buộc bị cáo Đỗ Văn T phải truy nộp số tiền 9.700.000 đồng do phạm tội mà có để sung ngân sách nhà nước.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với hành vi bán dâm của Phạm Thị Diễm T2, Hà Thị Th, Công an quận Hoàng Mai đã căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị định 167/2013 ngày 12/11/2013 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 200.000 đồng mỗi người và đối với hành vi mua dâm của Lê Văn H, Đinh Công T Công an quận Hoàng Mai đã căn cứ khoản 1 Điều 22 Nghị định 167/2013 ngày 12/11/2013 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng mỗi người là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật Đối với nhà nghỉ An Phú. Đăng ký kinh doanh mang tên Nguyễn Thị N. Hiện anh Nguyễn Tiến L chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh nhà nghỉ. Nhà nghỉ có giấy phép kinh doanh dịch vụ lưu trú, do đã tự phát hiện hành vi vi phạm của các đối tượng mua bán dâm trình báo với cơ quan công an nên cơ quan điều tra không tiến hành xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Môi giới mại dâm”.

2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 04 năm 06 tháng (bốn năm sáu tháng) tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/3/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đỗ Văn T.

3. Về các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, số imei: 354838092740013, đã qua sử dụng và số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

- Trả lại chị Phạm Thị Diễm T2 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus màu vàng, số imei: 354388065893407, đã qua sử dụng.

- Trả lại chị Hà Thị Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng, số imei: 359474082204649, đã qua sử dụng.

(Toàn bộ vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội theo Phiếu nhập kho số NK2020-00240 ngày 12 tháng 6 năm 2020 và theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 09/4/2020).

- Buộc bị cáo Đỗ Văn T phải truy nộp số tiền 9.700.000 đồng (Chín triệu bẩy trăm nghìn đồng) để sung ngân sách nhà nước.

4. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


20
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về