Bản án 210/2018/HS-PT ngày 05/10/2018 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 210/2018/HS-PT NGÀY 05/10/2018 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 05 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 177/2018/TLPT- HS ngày 09 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Duy C và đồng phạm. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Duy C, Bùi Đức Th đối với bản án hình sự sơ thẩm số 66/2018/HS-ST ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Duy C (Cu A), Sinh năm: 1989 tại Đồng Nai; HKTT: ấp 2, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1971; Vợ con: chưa có.

Tiền án: Ngày 23/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2016; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/9/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 28/6/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2017.

2. Bùi Đức Th, Sinh năm: 1993 tại Đồng Nai; HKTT: ấp H1, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: khoan giếng; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Đức T, sinh năm 1963 và bà Đinh Thị M, sinh năm 1964; vợ: Nguyễn Thị Thùy Tr, sinh năm 1992, có 01 con sinh 20/10/2014.

Tiền án: Ngày 12/91/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Đồng Nai xử phạt 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2016; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2017.

(các bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 11/8/2017, chị Nguyễn Thị Bích L điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen, biển số 60Y8-0005 từ ấp L1, xã B1, huyện C đi đến thị trấn G. Đến khoảng 11 giờ 25 phút cùng ngày, chị L đi đến chợ tạm ấp văn hóa B2, xã X1, huyện X và chuẫn bị rẽ phải vào đường bê tông ép B2 đi xã L2. Lúc này có 02 đối tượng nam thanh niên điều khiển xe mô tô Sirius màu đen, không có bửng (Yếm), người điều khiển xe mặc áo thun màu tối, quần soọc lửng, người ngồi sau mặc áo sơ mi tay dài dạng áo Jean, màu xanh đã bạc màu, quần Jean màu đen, cả 02 đối tượng đều đội nón lưỡi trai, không đội nón bảo hiểm, đi cùng chiều từ phía sau vượt lên và áp sát bên trái xe của chị, đối tượng ngồi phía sau đưa tay giật điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng (Gold), để ở túi áo khoác bên trái, rồi nhanh chóng tăng ga bỏ chạy về hướng trung tâm Điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai. Sau khi bị cướp giật điện thoại, chị L đã đến Công an trình báo sự việc.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 09 giờ ngày 11/8/2017, Bùi Đức Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen-đỏ-bạc, mang biển số 60R2-9062 đến nhà Nguyễn Duy C rủ C đi chơi. C đồng ý. Th điều khiển xe mô tô chở C ngồi phía sau chạy trên đường quốc lộ 1A theo hướng từ xã B, huyện X đi về hướng xã X1, huyện X, rồi rẽ vào đường liên xã X1 đi xã X2, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, trên đường đi về đến gần ngã ba đường bê tông thuộc ấp B2, xã X1 đi xã L2, C ngồi sau nhìn thấy chị Nguyễn Thị Bích L đang điều khiển xe mô tô đi cùng chiều phía trước, phát hiện thây túi áo khoác bên trái để lộ 01 điện thoại di động, C nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại của bà L để bán lấy tiền tiêu xài. C nói Th điều khiên xe ép sát để C chiếm đoạt điện thoại di động của bà L, Th đồng ý. Th điều khiên xe mô tô chạy từ phía sau lẻn song song, ép sát vào bên trái xe mô tô của bà L và C ngồi sau dùng tay giật điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng (Gold) của bà L. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, Th điều khiển xe chở C chạy về hướng xã B, rồi điều khiển xe chở C đến cơ sở dịch vụ cầm đồ Kim A1 tại thị xã Long Khánh. Th đứng bên ngoài, C vào cầm cố với số tiền là 2.000.000 đồng, rồi đi ra nói cho Th biết đã cầm điện thoại được số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó C và Th đi đến quán cà phê, quán ăn trên địa bàn thị xã Long Khánh, ăn uống tiêu xài, C là người trả tiên và Th chở C đi về nhà.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc, ban đầu Bùi Đức Th đã khai báo rõ ràng về hành vi, nhưng sau đó lại thay đổi lời khai và phủ nhận toàn bộ những lời khai trước đó của mình. Đối với Nguyễn Duy C không thừa nhận hành vi của mình.

Vật chứng vụ án:

01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen-đỏ-bạc, biển số 60R2- 9062 thu giữ của Th; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng (Gold), số Imei 1 - 353415/08/534809, số Imei 2 - 353416/08534809/3 do dịch vụ cầm đồ Kim A1 giao nộp;

01 hợp đồng cầm đồ số 05590 thể hiện nội dung người có tên Duy C cầm cố điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng, vào ngày 11/8/2017, do dịch vụ cầm đồ Kim A1 giao nộp;

01 hợp đồng cầm đồ số 05590 thể hiện nội dung người có tên Duy C cầm cố điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng, vào ngày 11/8/2017, thu giữ trên người của Nguyễn Duy C;

01 áo sơ mi nam tay dài, dạng vãi jean, màu xanh bạc; 01 quần jean dạng nàu xanh đậm, 01 nón vải (dạng lưỡi trai) màu trắng bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen màn hình cảm ứng đã vỡ mặt kính, không có pin, không có ốp lưng sau; 01 ốp lưng điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng đã cũ, do gia đình C giao nộp;

02 USB nhãn hiệu Kingston, dung lượng 4G bên trong có các đoạn video lưu trữ hình ảnh của Nguyễn Duy C và Bùi Đức Th tại các camera an ninh;

01 USB nhãn hiệu Kingston, dung lượng 4G bên trong có các đoạn video lưu trữ hình ảnh của Nguyễn Duy C và Bùi Đức Th do cơ sở dịch vụ cầm đồ Kim A1 giao nộp.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 16/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng dân sự huyện X kết luận: Giá trị còn lại của 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng (gold) so Imei 1 - 353415/08/534809; số Imei 2 - 353416/08/534809/3 là 3.000.000 đồng.

Trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra xác minh, xe mô tô biển số 60R2-9062 là của bà Đinh Thị M, là mẹ ruột của bị cáo Bùi Đức Th. Ngày 03/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã ra quyết định trả lại chiếc xe mô tô này cho bà Đinh Thị M, nhận tài sản bà M không có yêu cầu gì khác.

Chị Nguyễn Thị Bích L đã nhận lại điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime, màu vàng và không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.

Anh Nguyễn Văn A2, chủ cơ sở dịch vụ cầm đồ Kim A1, yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại số tiền cầm đồ là 2.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS-HS ngày 04 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Duy C và Bùi Đức Th về tội Cướp giật tài sảntheo điểm d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại bản án sơ thẩm số 66/2018/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy C và Bùi Đức Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C - 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2017.

Xử phạt bị cáo Bùi Đức Th - 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2017.

Ngày 03/7/2018 bị cáo Nguyễn Duy C kháng cáo trình bày chỉ bán điện thoại dùm không phạm tội cướp giật tài sản.

Ngày 03/7/2018 bị cáo Bùi Đức Th kháng cáo trình bày chỉ bán điện thoại dùm và xin giảm nhẹ hình phạt.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Bị cáo C quanh co nhiều lời khai không thống nhất, nhưng chiếc điện thoại thu giữ khớp với biên lai bị cáo cầm trong tiệm cầm đồ, phù hợp lời khai bị hại, bản tự khai của bị cáo Th và các chứng cứ khác có tại hồ sơ. Cấp sơ thẩm xử các bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ đúng người đúng tội, các bị cáo kêu oan là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Khoảng 11 giờ 30 ngày 11/8/2017 tại ngã ba đường bê tông thuộc ấp B2, xã X1, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Các bị cáo Nguyễn Duy C và Bùi Đức Th có hành vi dùng xe phân khối lớn cướp giật của chị Nguyễn Thị Bích L 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu vàng (gold) được định giá là 3.000.000 đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo không thừa nhận cướp giật tài sản, mà khai nhận đem điện thoại đi cầm dùm cho 01 người không quen biết tên Phương L3 đã chết ngày 14/10/2017. Đối chiếu lời khai người bị hại, chủ tiệm cầm đồ, hình ảnh camera an ninh, các chứng cứ khác thu thập có tại hồ sơ đều trùng khớp lời khai ban đầu của bị cáo Th. Án sơ thẩm đã phân tích đánh giá toàn diện vụ án và xử phạt các bị cáo Nguyễn Duy C và Bùi Đức Th về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 136 BLHS – 1999 là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng với hướng dẫn của Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Xét kháng cáo kêu oan của các bị cáo không có cơ sở chấp nhận và giữ nguyên Quyết định án sơ thẩm.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Về nhân thân các bị cáo là những đối tượng đã có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án, nay lại câu kết với nhau để chiếm đoạt tài sản, cho thấy tính chuyên nghiệp của các bị cáo, nên việc xử phạt nghiêm các bị cáo là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về án phí: Áp dụng nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Như đã nhận định, xét chấp nhận lời đề nghị của Đại diện viện kiểm sát.

[5] Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Duy C và Bùi Đức Th; Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo:

Nguyễn Duy C (Cu A) 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2017.

Bùi Đức Th 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2017. Các bị cáo đều bị xử về tội “Cướp giật tài sản”.

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

4.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. 


53
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về