Bản án 20/2021/HS-PT ngày 22/01/2021 về tội mua bán trái phép chất ma túy         

 TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 20/2021/HS-PT NGÀY 22/01/2021 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY             

Ngày 22 tháng 01 năm 2021, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 371/2020/TLPT-HS ngày 08/12/2020, đối với các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 354/2020/HS-ST ngày 10/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Dương Đức C - Sinh năm 1997, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn:

12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Đức B và bà Nguyễn Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự:

Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/6/2020, đến ngày 26/6/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Phi H - Sinh năm 2001, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Đường Q, phường A, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn:

09/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phan Như B và bà Dương Thị Kim M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/6/2020, đến ngày 26/6/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Thị Hồng N, nhưng không có kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Đức C, Nguyễn Phi H và Nguyễn Thị Hồng N là những đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy và C, H, N nảy sinh ý định mua ma túy về bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 16/6/2020, có một nam thanh niên tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) có số điện thoại là 0961.930.0xx gọi vào số điện thoại của C 0772.447.8xx hỏi mua bốn viên ma túy thuốc lắc và hai chấm khay, C đồng ý bán 350.000 đồng/01 viên thuốc lắc và 1.200.000 đồng/01 chấm khay. Thỏa thuận giá xong, C gọi vào số điện thoại 0397.564.3xx của H hỏi mua bốn viên thuốc lắc và hai chấm khay, H đồng ý bán 300.000 đồng/01 viên thuốc lắc và 900.000 đồng/01 chấm khay. Sau đó, H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen (không rõ biển số) mượn của người bạn tên Mập (không rõ nhân thân, lai lịch) chở Nguyễn Thị Hồng N đến hẻm đường S, phường E, thành phố B. Đến nơi, N đứng ngoài đầu hẻm, H chạy xe vào hẻm gặp người tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) mua bốn viên thuốc lắc với giá 300.000 đồng/01 viên thuốc lắc và hai chấm khay (bỏ vào trong một túi nylon) với giá 800.000 đồng/01 chấm khay, H1 bỏ vào trong vỏ bao thuốc lá hiệu CARAVEN màu đỏ trắng. Sau khi mua được ma túy, H chở N đi đến bên hông hẻm đường Trường Cao đẳng nghề tỉnh Đắk Lắk, thuộc phường E, thành phố B, để bán cho C. Tại đây, N đưa cho C một vỏ bao thuốc lá hiệu CARAVEN màu đỏ trắng bên trong chứa 04 viên ma túy thuốc lắc và một gói nylon chứa 02 chấm ma túy khay. Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 16/6/2020, khi C đang đứng trước số nhà Y, phường L, thành phố B, thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Buôn Ma Thuột kiểm tra, C tự giác lấy từ trong túi quần Jean phía sau bên trái C đang mặc ra giao nộp một gói thuốc lá hiệu CARAVEN màu đỏ trắng cho lực lượng Công an và khai nhận là ma túy khay và thuốc lắc mang đi bán nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang và được niêm phong theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số: 551/GĐMT-PC09 ngày 26/6/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Bốn viên nén hình chữ nhật màu xám được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,1231 gam, loại MDMA; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,7260 gam, loại: Ketamine.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 354/2020/HS-ST ngày 10/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Dương Đức C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 17/6/2020 đến ngày 26/6/2020.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 17/6/2020 đến ngày 26/6/2020.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/11/2020, các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H có đơn kháng cáo, với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng: Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng người, đúng tội. Về mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H là thỏa đáng và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Do đó kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ chấp nhận. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng của các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Dương Đức C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H không tranh luận, bào chữa gì và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ 40 phút đến 22 giờ ngày 16/6/2020 các bị cáo Dương Đức C, Nguyễn Phi H và Nguyễn Thị Hồng N đã cố ý cùng nhau thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thì bị đội Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt giữ cùng tang vật là một bao thuốc lá hiệu CARAVEN chứa 04 viên nén và 01 gói nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Qua giám định xác định 04 viên nén trên là ma túy loại MDMA, có khối lượng 2,1231 gam và chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,726 gam. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý và đảm bảo đúng người, đúng tội.

[2] Đối với kháng cáo của các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt cho xã hội, hành vi này là nguyên nhân gây tổn hại cho sức khoẻ con người, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an chung của xã hội. Xét mức hình phạt 03 năm 06 tháng tù mà bản án sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Dương Đức C và bị cáo Nguyễn Phi H, là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bản án sơ thẩm cũng đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo cũng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 354/2020/HS-ST ngày 10/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.

Tuyên bố: Các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[2] Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[2.1] Xử phạt: Bị cáo Dương Đức C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 17/6/2020 đến ngày 26/6/2020.

[2.2] Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, bị cáo được khấu trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 17/6/2020 đến ngày 26/6/2020.

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Dương Đức C và Nguyễn Phi H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2021/HS-PT ngày 22/01/2021 về tội mua bán trái phép chất ma túy         

Số hiệu:20/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về