Bản án 20/2020/HSST ngày 18/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 20/2020/HSST NGÀY 18/05/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Vào hồi 15 giờ 10 phút, ngày 18 tháng 05 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2020/TLST-HS, ngày 09 tháng 4 năm 2020; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Lê Hoài N; sinh ngày: 06/5/1976; tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn 4, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Lê Khánh C (tên gọi khác: Lê Văn C) (Đã chết) và bà Lê Thị H (Đã chết); vợ: Phạm Thị H1 và 01 con (Sinh năm 2007); tiền án: Ngày 26/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số: 11/2014/HSST, chấp hành xong ngày 16/01/2015. Ngày 27/01/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 33 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số: 01/2016/HSST, chấp hành xong ngày 09/2/2018 nhưng chưa được xóa án tích; tiền án: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 31/01/2020 và chuyển tạm giam từ ngày 02/2/2020 tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Học T. Sinh ngày: 24/9/1992. Địa chỉ: Thôn S, xã A, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

+ Anh Phạm Minh D. Sinh ngày: 10/8/1992. Địa chỉ: Thôn 3, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Anh Phạm Cao C1. Sinh ngày: 04/7/1988. Địa chỉ: Thôn 2, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến: Ông Lê Xuân D1– Sinh năm: 1956. Địa chỉ:

Thôn 4, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 30/01/2020, Lê Hoài N, sinh năm 1976, trú tại thôn 4, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh bắt xe buýt từ nhà đến thành phố V, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì đến, khi đến N xuống xe tại cổng trường Đại học V, rồi đi bộ một lúc thì gặp một người đàn ông hành nghề xe ôm, nhưng không biết tên, địa chỉ và đặt vấn đề nhờ mua 1.300.000 đồng tiền ma túy, gồm ma túy dạng đá, Heroine và hồng phiến, người này đồng ý. Một lúc sau, người này quay lại và đưa cho N 03 túi ni lông màu hồng, biết bên trong các túi ni lông có chứa ma túy nên cất dấu vào túi quần, rồi bắt xe buýt về nhà. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì về đến nhà, tại đây N mở 03 túi ni lông màu hồng vừa mua xong để kiểm tra, thấy bên trong 01 túi ni lông màu hồng chứa tinh thể rắn màu trắng ( ma túy đá), 01 túi chứa các viên nén màu hồng ( hồng phiến) và 01 túi vừa chứa các viên nén màu hồng và 02 hai gói giấy thiếc màu vàng, bên trong chứa chất bột nén màu trắng (Heroine). Sau đó, N lấy túi ni lông thứ nhất chứa hồng phiến, chia nhỏ bỏ vào 10 ống hút nhựa, mỗi ống từ 02 đến 03 viên; gói ni lông thứ hai chứa hồng phiến và 02 gói Heroine, N tiếp tục chia nhỏ số hồng phiến bỏ vào 15 ống hút nhựa và một số viên còn lại đang chứa trong túi ni lông màu hồng, còn 02 gói Heroine, 01 gói N cất dấu vào túi quần bên trái phía trước và 01 gói cất vào túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc trên người. Sau đó, N bỏ 03 túi ni lông màu hồng vào trong ví da màu đen của mình. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Học T, sinh năm 1992, trú tại thôn S, xã A đến chơi. Tại đây, N lấy 01 viên hồng phiến rồi cùng T sử dụng, sau đó T đi có việc riêng một lúc thì có Phạm Minh D, sinh năm 1992, trú tại thôn 3, xã S đến và chơi điện tử.

Khoảng 30 phút sau thì T quay lại rồi ngồi chơi tại đây. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, có Phạm Cao C1, sinh năm 1988, trú tại thôn 2, xã S, huyện H đến và ngồi chơi. Ngồi chơi một lúc, thì N lấy 01 túi ni lông màu hồng đựng số hồng phiến chưa bỏ vào các đoạn ống nhựa và 01 túi ni lông đựng ma túy đá trong ví da ra để sử dụng. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang chuẩn bị để sử dụng ma túy thì bị lực lượng chức năng kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trên chiếu trước vị trí N đang ngồi có 02 túi ni lông màu hồng, 01 túi chứa chất tinh thể rắn màu trắng, 01 túi chứa có 67 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY và 15 đoạn ống nhựa được dán kín hai đầu, bên trong chứa 36 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY, tổng số viên nén màu hồng trong túi ni lông màu hồng 103 viên; 01 ví da màu đen, bên trong có 01 túi ni lông màu hồng, bên trong túi ni lông màu hồng có 10 đoạn ống nhựa được dán kín hai đầu, chứa 31 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY. Tiếp tục kiểm tra trên người Lê Hoài N, phát hiện trong túi quần bên trái phía trước N đang mặc có 01 gói giấy thiếc màu vàng, trong túi áo khoác ngoài bên phải phía dưới có 01 gói giấy thiếc màu vàng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột nén màu trắng. Ngoài ra, phát hiện trên chiếc chiếu trong phòng N đang ngồi có 01 chai nhựa màu trắng, trên thân có đục lỗ và gắn một đoạn ống làm bằng giấy. Tiến hành khám xét nơi ở của N thu giữ: Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 55.800.000 đồng; 04 bơm kim tiêm bằng nhựa,đã qua sử dụng ( trong đó có một bơm kim tiêm không có mũi kim); 01 túi ni lông đựng 03 mẫu giấy thiếc màu vàng - trắng, 01 ống nhỏ bằng kim loại và 64 ống hút nhựa có màu sắc khác nhau. Lê Hoài N khai nhận các viên nén màu hồng, chất tinh thể rắn màu trắng và chất bột nén màu trắng là ma túy, do N mua về để sử dụng thì bị bắt quả tang.

* Tại bản Kết luận giám định số 42/GĐMT- PC09 ngày 01/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận:

- Chất tinh thể rắn màu trắng đựng trong một túi ni lông màu hồng thu giữ tại chiếc chiếu nhựa trước vị trí Lê Hoài N đang ngồi khi bắt quả tang (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 6,1382 gam, là Methamphetamine.

- 103 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY, trong đó 36 viên nằm trong 15 đoạn ống nhựa được dán kín hai đầu và 67 viên, toàn bộ được đựng trong một túi ni lông màu hồng, thu giữ tại chiếu nhựa trước vị trí Lê Hoài N đang ngồi khi bắt quả tang (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 10,5533 gam, là Methamphetamine.

- 31 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY ở trong 10 đoạn ống nhựa được dán kín hai đầu được đựng trong một túi ni lông màu hồng thu giữ trong chiếc ví da màu đen trên chiếu nhựa trước vị trí Lê Hoài N đang ngồi khi bắt quả tang (ký hiệu M3) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 3,1027 gam, là Methamphetamine.

- Chất bột nén màu trắng trong gói giấy thiếc màu vàng thu giữ trong túi quần bên trái Lê Hoài N đang mặc trên người khi bắt quả tang (ký hiệu M4) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1462 gam, là Heroine.

- Chất bột nén màu trắng trong gói giấy thiếc màu vàng thu giữ trong túi áo khoác bên phải phía dưới Lê Hoài N đang mặc trên người khi bắt quả tang (ký hiệu M5) gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3254, là Heroine.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II.C, STT 323, Nghị định 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

* Vật chứng và tài sản thu giữ, đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, gồm:

- 16,6915 gam Methamphetamine ( Đã lấy mẫu giám định 0,5494 gam), còn lại 16,1421 gam, cùng võ bao gói được cho vào một phong bì thư, dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và Lê Hoài N;

- 0,4716 gam Heroine ( Đã lấy mẫu giám định 0,0379 gam), còn lại 0,4337 gam; 3,1027 gam Methamphetamine ( Đã lấy mẫu giám định 0,4068 gam), còn lại 2,6959 gam, cùng võ bao gói cho vào phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và Lê Hoài N;

- 01 chiếc ví da màu đen;

- 04 bơm kim tiêm bằng nhựa, trong đó có một bơm kim tiêm không có mũi kim;

- 01 túi ni lông đựng 03 mẫu giấy thiếc vàng - trắng, 01 ống nhỏ bằng kim loại và 64 ống hút nhựa có màu sắc khác nhau;

- 01 chai nhựa màu trắng trên thân có đục lỗ và gắn một đoạn ống làm bằng giấy;

- 55.800.000 đồng ( Năm mươi năm triệu, tám trăm ngàn đồng) do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành.

Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS-HS, ngày 06 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Lê Hoài N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định các điểm n và o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng các điểm n và o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt Lê Hoài N mức án từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy:

- 16,6915 gam Methamphetamine ( Đã lấy mẫu giám định 0,5494 gam), còn lại 16,1421 gam, cùng võ bao gói được cho vào một phong bì thư, dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và Lê Hoài N;

- 0,4716 gam Heroine ( Đã lấy mẫu giám định 0,0379 gam), còn lại 0,4337 gam; 3,1027 gam Methamphetamine ( Đã lấy mẫu giám định 0,4068 gam), còn lại 2,6959 gam, cùng võ bao gói cho vào phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và Lê Hoài N;

- 01 chiếc ví da màu đen;

- 04 bơm kim tiêm bằng nhựa, trong đó có một bơm kim tiêm không có mũi kim;

- 01 túi ni lông đựng 03 mẫu giấy thiếc vàng - trắng, 01 ống nhỏ bằng kim loại và 64 ống hút nhựa có màu sắc khác nhau;

- 01 chai nhựa màu trắng trên thân có đục lỗ và gắn một đoạn ống làm bằng giấy;

- Trả lại cho bị cáo Lê Hoài N số tiền 55.800.000 đồng do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành.

- Về án phí: Bị cáo Lê Hoài N phải chịu án phí theo quy định của pháp Bị cáo Lê Hoài N thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Học T và người làm chứng anh Phạm Minh D, anh Phạm Cao C1; người chứng kiến ông Lê Xuân D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của anh Nguyễn Học T, anh Phạm Minh D, anh Phạm Cao C1, ông Lê Xuân D1không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên xét xử vắng mặt của anh Nguyễn Học T, anh Phạm Minh D, anh Phạm Cao C1, ông Lê Xuân Diệu.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Hoài N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định hành vi Lê Hoài N mua 19,7942 gam Methamphetamin và 0,4716 gam Heroine tàng trữ để nhằm mục đích sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có gì oan sai.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy.

Methamphetamin và Heroine là chất gây nghiện, khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh nòi giống con người. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây Hoang mang lo lắng cho mọi người. Hơn nữa, bị cáo có tiền án: Ngày 26/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 16/01/2015. Ngày 27/01/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 33 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số: 01/2016/HSST, chấp hành xong ngày 09/2/2018 nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo không tiếp tục lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng trở thành người có ích cho xã hội mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ sự iều lĩnh, coi thường pháp luật và không thể tự mình cai nghiện. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Bị cáo Lê Hoài N có 02 tiền án chưa được xóa nên phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm 0 khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[6] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo; cha đẻ là tH binh hạng 4/4. Cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

[7] Đối với anh Nguyễn Thái H1, trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H xác định H không biết việc tàng trữu trái phép chất ma túy, nhưng cùng N sử dụng ma túy. Ngày 21/2/2020, Chủ tịch UBND xã S đã ra Quyết định số: 23/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp tại xã, biện pháp quản lý tại gia đình nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[8] Đối với anh Phạm Minh D và anh Phạm Cao C1, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Sơn xác định, D và C1 không biết việc N tàng trữ trái phép chất ma túy và không sử dụng ma túy cùng N, nên không liên quan đến hành vi phạm tội của N nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[9] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Hoài N ở cổng trường Đại học vinh do không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Sơn không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[10] Về vật chứng vụ án: - 16,6915 gam Methamphetamine (Đã lấy mẫu giám định 0,5494 gam), còn lại 16,1421 gam, cùng võ bao gói được cho vào một phong bì thư, dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và Lê Hoài N là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 0,4337 gam; 3,1027 gam Methamphetamine ( Đã lấy mẫu giám định 0,4068 gam), còn lại 2,6959 gam, cùng võ bao gói cho vào phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và Lê Hoài N là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc ví da màu đen là pH tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 04 bơm kim tiêm bằng nhựa, trong đó có một bơm kim tiêm không có mũi kim; 01 túi ni lông đựng 03 mẫu giấy thiếc vàng - trắng, 01 ống nhỏ bằng kim loại và 64 ống hút nhựa có màu sắc khác nhau, 01 chai nhựa màu trắng trên thân có đục lỗ và gắn một đoạn ống làm bằng giấy;là vật thu được tại thời điểm khám xét nhà của bị cáo và không có giá trị sử dung nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 55.800.000 đồng do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành là tài sản của bị cáo Lê Hoài N và số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Lê Hoài N.

[11] Về án phí: Bị cáo Lê Hoài N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Học T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điểm n và o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106, khoản 2 điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hoài N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Hoài N 7 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 1/1/2020).

* Về vật chứng vụ án:

+ Tịch thu tiêu hủy: 16,1421 gam Methamphetamine cùng võ bao gói được cho vào một phong bì thư, dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và Lê Hoài N.

- 2,6959 gam Methamphetamine cùng võ bao gói cho vào phong bì thư được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và Lê Hoài N.

- 01 chiếc ví da màu đen.

- 04 bơm kim tiêm bằng nhựa, trong đó có một bơm kim tiêm không có mũi kim.

- 01 túi ni lông đựng 03 mẫu giấy thiếc vàng - trắng, 01 ống nhỏ bằng kim loại và 64 ống hút nhựa có màu sắc khác nhau.

- 01 chai nhựa màu trắng trên thân có đục lỗ và gắn một đoạn ống làm bằng giấy.

+ Trả lại cho bị cáo Lê Hoài N số tiền 55.800.000 đồng do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2020) - Về án phí: Buộc bị cáo Lê Hoài N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Hoài N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Học T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án chính.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2020/HSST ngày 18/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:20/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về