Bản án 20/2020/HS-ST ngày 06/05/2020 về tội đánh bạc 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 20/2020/HS-ST NGÀY 06/05/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC  

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2020 đối với các bị cáo:

1.Trịnh Đình Th,sinh ngày 21 tháng 12 năm 1999; nơi cư trú: Thôn 5, xã QB, huyện CM, thành phố Hà Nội;nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh;giới tính: Nam;tôn giáo: Không;quốc tịch: Việt Nam; con ôngTrịnh Đình D và bà Nguyễn Thị Ph; vợ, con: chưa có; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 11/7/2018, bị Công an huyện ML, thành phố Hà Nội ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, mức phạt 2.500.000đ. Ngày 12/7/2018 đã nộp phạt xong.

Nhân thân:Ngày 04/12/2019bị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội "Gây rối trật tự công cộng".

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/10/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

2.Đỗ Viết D, sinh ngày 01 tháng 02 năm 2000; nơi cư trú: Thôn BT, xã T,huyện ML, thành phố Hà Nội;nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh;giới tính: Nam;tôn giáo: Không;quốc tịch: Việt Nam; con ôngĐỗ Đức Th1 và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/10/2019, đến ngày 11/10/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương nơi cư trú (có mặt).

3.Phạm Văn Tr; sinh ngày 12 tháng 03 năm 1991; nơi cư trú: Xóm D, xã YT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình;nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh;giới tính: Nam;tôn giáo: Không;quốc tịch: Việt Nam; con ôngPhạm Văn H và bà Trần Thị X; có vợNguyễn Thị Hồng Nh và 01 con; tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 30/8/2019, bị Công an huyện ML xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng, mức phạt: 4.000.000đ.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/10/2019, đến ngày 11/10/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương nơi cư trú (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 05/10/2019, Phòng cảnh sát hình sự(Phòng PC02) Công an tỉnh Vĩnh Phúc nhận được đơn trình báo của chị Phạm Thị B, sinh ngày 20/02/1990, trú tại thôn BT, xã T, huyện ML, thành phố Hà Nội về việc có một nhóm đối tượng gồm Trịnh Đình Th, sinh năm 1999 ở xã QB, huyện CM, thành phố Hà Nội; Phạm Văn Tr, sinh năm 1991 ở xã YT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình và Đỗ Viết D, sinh năm 2000 ở xã T, huyện ML, thành phố Hà Nội đến phòng trọ của chị B tại tổ dân phố Vĩnh Thịnh Đ, phường KQ, thành phố Vĩnh Yên để đòi nợ thuê và gây rối trật tự công cộng. Sau khi nhận được đơn của chị B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành xác minh đối với tin báo trên và triệu tập Trịnh Đình Th, Phạm Văn Tr, Đỗ Viết D đến Cơ quan điều tra để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Đình Th đã giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A30, màu đen xám bên trong có lắp sim số 0328.504.567 và khai nhận có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh số lô, số đề với Phạm Văn Tr qua tin nhắn Zalo, sau đó Th chuyển bảng số lô, số đề qua tin nhắn SMS cho Đỗ Viết D để đánh bạc với D.

Phạm Văn Tr đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh đen bên trong có lắp sim số 0865.504.404 và khai nhận là Tr có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh số lô, số đề với Trịnh Đình Th qua tin nhắn Zalo.

Đỗ Viết D đã giao nộpcho cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon x, màu trắng, bên trong có lắp sim số 0978.104.301 và khai nhận là D có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh số lô, số đề (nhận bảng số lô, đề) của Trịnh Đình Th qua tin nhắn SMS.

Phạm Văn Tr, Trịnh Đình Th và Đỗ Viết D khai nhận là Tr, Th, D có quan hệ bạn bè xã hội với nhau nên đã thống nhất với nhau về việc đánh bạc dưới hình thức đánh số lô, số đề và cùng thỏa thuận: 01 điểm lô Tr đánh với Th thì Th tính = 23.000đ, sau đó Th đánh với D thì D thu của Th = 22.500đ, nếu trúng thì D trả cho Th = 80.000đ/01 điểm lô; 1000đ tiền đề nếu trúng D trả Th = 70.000đ. Việc tính thắng, thua thì căn cứ vào kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng vào lúc 18 giờ 30 phút hàng ngày. Kết quả trúng thưởng số lô căn cứ vào 02 số cuối của tất cả các giải xổ số, kết quả trúng thưởng số đề căn cứ vào 02 số cuối của giải đặc biệt. Tiền thắng thua thì Th, Tr và D thống nhất thanh toán với nhau vào ngày hôm sau.

Buổi chiều ngày 26/9/2019, Phạm Văn Tr sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu sam sung, màu xanh đen bên trong có lắp sim số 0865.504.404 của Tr đăng nhập tài khoản Zalo có tên “Sơn Tattoos” sau đó nhắn tin đánh bạc với hình thức đánh lô, đề với Trịnh Đình Th qua Zalo “Th ve” mà Tr lưu trong máy là “Cu Th”. Tr nhắn các số lô, số đề cụ thể sau: Số lô gồm: 28, 82, 38, 83, 38 mỗi số 20 điểm, lô 88, 92 mỗi số 10 điểm tổng = 120 điểm lô x 23.000đ/01 điểm =2.760.000đ. Số đề gồm: 38, 00, 33 mỗi số = 100.000 đồng, đề 92 = 50.000 đồng, đề ba càng 192 = 100.000 đồng, tổng tiền đề = 450.000đ. Tổng cả tiền lô và đề = 3.210.000đ. Sau khi nhận tin nhắn của Tr, Th nhắn lại: Ok, tức là đồng ý và đã nhận được tin nhắn.

Sau khi nhận được tin nhắn của Tr, Th đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu sam sung Galaxy A30, màu đen bên trong có lắp sim số 0328.504.567 của Th để chuyển tin nhắn SMS đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với Đỗ Viết D qua số điện thoại 0978.104.301. Cụ thể Th đã chuyển các số lô gồm 47, 83, 28, 72 mỗi số = 50 điểm; Số đề: 00, 55, 03, 30, 04, 40, 05, 50, 06, 60 mỗi số = 50.000đ; số đề 45, 87, 75, 65, 92, 15, 51, 03, 25, 82, 11 mỗi số = 30.000đ; số lô 69 = 50 điểm. Mỗi lần Th nhắn tin cho D xong thì D đều nhắn tin lại cho Th là“Ok”, tức là đã nhận được tin nhắn và đồng ý. Sau khi nhắn các tin nhắn trên cho D thì Th tiếp tục nhắn tin cho D để đánh các số đề gồm: 88, 33 mỗi số = 30.000đ. Sau khi nhận được tin nhắn của Th, D nhắn lại “K ok đc” tức là không nhận 02 số đề 88 và 33 trên vì lúc đó đã sát giờ quay xổ số. Ngày 26/9/2019, Th đã đánh bạc với D tổng số = 250 điểm lô x 22.500đ/01 điểm = 5.625.000đ và 830.000đ tiền đề. Tổng tiền cả tiền lô và đề = 6.455.000đ.

Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng ngày 26/9/2019. Đối chiếu kết quả với các số lô, số đề mà Tr đã đánh bạc với Th thì Tr trúng 30 điểm lô gồm các số: 83 = 20 điểm; 92 = 10 điểm. Số tiền Tr trúng thưởng là 30 điểm lô x 80.000đ = 2.400.000đ. Như vậy, tổng số tiền Tr đánh bạc dưới hình thức số lô, số đề với Th và trúng thưởng ngày 26/9/2019 là: 5.610.000đ. Tr và Th đã thanh toán với nhau xong tiền thắng thua ngày 26/9/2019.

Đối chiếu kết quả với các số lô, số đề Th đánh với D thì Th đã trúng số lô 83 = 50 điểm x 80.000đ/01 điểm = 4.000.000đ. Như vậy, tổng số tiền Th đánh bạc với D ngày 26/9/2019 là 10.455.000đ.Th và D đã thanh toán với nhau xong tiền thắng thua ngày 26/9/2019.

Kết quả điều tra còn xác định: Ngày 03/10/2019, Th sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu sam sung Galaxy A30, màu đen bên trong có lắp sim số 0328.504.567 của mình để nhắn tin đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với Đỗ Viết D. Cụ thể Th đã nhắn tin đánh các số lô gồm: 62, 58, 23, 87, 65 mỗi số = 50 điểm; số lô 54 = 30 điểm; các số đề gồm: 66 = 150.000đ; các số 53, 54, 55, 63, 64, 65 mỗi số 100.000đ; các số 22, 99, 55, 33, 77 mỗi số 50.000đ. Mỗi lần Th nhắn tin cho D xong thì D đều nhắn tin lại “Ok” để xác nhận là đồng ý đã nhận được tin nhắn. Ngày 03/10/2019, Th đã nhắn tin đánh bạc với D tổng số 280 điểm lô x 22.500đ/01 điểm = 6.300.000đ và 1.000.000đ tiền đề. Tổng cả tiền đánh lô và đề Th đánh với D ngày 03/10/2019 = 7.300.000đ.

Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 03/10/2019, Th trúng số lô 54 = 30 điểm x 80.000đ = 2.400.000đ. Như vậy tổng số tiền Th đánh bạc với D ngày 03/10/2019 = 9.700.000đ (gồm 7.300.000đ + 2.400.000đ). Th và D đã thanh toán tiền thắng thua ngày 03/10/2019 xong cho nhau.

Cơ quan Công an tỉnh Vĩnh Phúc phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Vĩnh Phúc tiến hành khôi phục, trích xuất dữ liệu tin nhắn điện thoại trong điện thoại nhãn hiệu Sam sung của Phạm Văn Tr xác định: Có 06 tin nhắn Zalo từ Zalo có tên “Sơn Tattoos” gửi đến Zalo có tên “Th ve” với nội dung Tr chuyển các số lô, số đề cho Th. Cụ thể:

+ Tin nhắn 1 vào lúc 5h27’ chiều ngày 26/9/2019: “Lo28-82 = 40d” + Tin nhắn 2 vào lúc 5h27’ chiều ngày 26/92019: “38-83 = 40d” + Tin nhắn 3 vào lúc 5h28’ chiều ngày 26/9/2019: “38=20d” + Tin nhắn 4 vào lúc 5h29’ chiều ngày 26/9/2019: “88-92=20d” + Tin nhắn 5 vào lúc 5h29’ chiều ngày 26/9/2019: “Đề 38-00-33= 300k” + Tin nhắn 6 vào lúc 5h30’ chiều ngày 26/9/2019: “Đê.92=50n. Đ3.192 = 100n” + Có 01 tin nhắn từ Zalo có tên “Th ve” gửi đến Zalo có tên “Sơn Tattoos” vào lúc 5h38’ ngày 26/9/2019 với nội dung: “Ok”.

Tiến hành khôi phục, trích xuất dữ liệu, tin nhắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A30, bên trong lắp sim số 0328.504.567 củaTrịnh Đình Th thì không khôi phục được tin nhắn trong Zalo mà Th đã nhận tin nhắn đánh số lô, đề của Tr ngày 26/9/2019 do Th đã xóa. Nhưng căn cứ kết quả trích xuất tin nhắn Zalo trong máy điện thoại của Phạm Văn Tr thì Th xác nhận các tin nhắn lô, đề mà cơ quan điều tra đã trích xuất được từ điện thoại của Tr gửi cho Th là hoàn toàn đúng sự thật.

Trích xuất tin nhắn SMS trong máy điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A30 của Th xác định: Ngày 26/9/2019, có 06 tin nhắn SMS từ số sim 0328.504.567 của Th gửi đến số sim 0978.104.301 của D với nội dung Th chuyển các số lô, số đề cho D. Cụ thể:

+ Tin nhắn 1 vào lúc 16h43’ ngày 26/9/2019: “47.83.28.72 mc 50d”

+ Tin nhắn 2 vào lúc 16h45’ ngày 26/92019: “Đề 00.55.030.040.050.060 mc 50n”

+ Tin nhắn 3 vào lúc 16h45’ ngày 26/9/2019: “Đe 45.87.75.65.92.15.51 mc 30n”

+ Tin nhắn 4 vào lúc 17h19’ ngày 26/9/2019: “Đê 03.25.82.11- 30n”

+ Tin nhắn 5 vào lúc 17h51’ ngày 26/9/2019: “Lô 69 – 50d”

+ Tin nhắn 6 vào lúc 18h27’ ngày 26/9/2019: “Đê 88.33 mc 50n”

+ Có 04 tin nhắn SMS từ số sim 0978.104.301gửi tới số sim 0328.504.567 trong đó có 03 tin nhắn vào lúc 17h21’; 17h53’ và 18h27’ ngày 26/9/2019 với nội dung: “Ok”, có 01 tin nhắn nhắn vào lúc 18h27’ với nội dung “K ok đc”.

Ngày 03/10/2019, có 05 tin nhắn SMS từ số sim 0328.504.567 gửi đến số sim 0978.104.301 với nội dung Th chuyển các số lô, số đề cho D. Cụ thể:

+ Tin nhắn 1 vào lúc 17h48’ ngày 03/10/2019: “Lô 62.58.23.87 mc 50d”

+ Tin nhắn 2 vào lúc 18h08’ ngày 03/10/2019: “Lô 65x50d, 54x30d; De 53.54.55.63.64.65 x100n”

+ Tin nhắn 3 vào lúc 18h14’ ngày 03/10/2019: “Đề mỗi con 100n nhé”

+ Tin nhắn 4 vào lúc 18h26’ ngày 03/10/2019: “De 66x150n; Đề 22.99.55.33 mc 50n”

+ Tin nhắn 5 vào lúc 18h28’ ngày 03/10/2019: “Đê 77-50n”

+ Có 05 tin nhắn SMS từ số sim 0978.104.301 gửi tới số sim 0328.504.567 vào lúc 17h51’; 18h12’; 18h15’; 18h27’ và 18h28’ngày 03/10/2019 với nội dung: “Ok”.

Tiến hành khôi phục, trích xuất dữ liệu, tin nhắn trong điện thoại nhãn hiệu Iphon x, màu trắng, bên trong lắp sim số 0978.104.301 của Đỗ Viết D thì không khôi phục, trích xuất được dữliệu vì D đã xóa toàn bộ tin nhắn đánh bạc số lô, đề với Trịnh Đình Th. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho D xem bản trích xuất tin nhắn SMS từ máy điện thoại di động của Trịnh Đình Th đã đánh bạc với D vào 02 ngày 26/9/2019 và 03/10/2019 thì D đều xác nhận là đúng và thừa nhận hành vi đánh bạc của bản thân.

Ngày 22/10/2019, Cơ quanCông an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 531 trưng cầuPhòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh đen bên trong có lắp sim số 0865.504.404 của Phạm Văn Tr.

Ngày 04/11/2019, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã có Bản kết luận giám định số 2318/KLGĐ kết luận: Trích xuất được tin nhắn Zalo mà Tr đã đánh bạc với Th ngày 26/9/2019 như đã nêu trên (kèm theo bản ảnh giám định).

Ngày 22/10/2019, Cơ quanCông an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 532 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A30, màu đen xám bên trong có lắp sim số 0328.504.567 của Trịnh Đình Th.

Ngày 04/11/2019, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã có Bản kết luận giám định số 2321/KLGĐ kết luận: Trích xuất được tin nhắn SMS màTh đã đánh bạc với D ngày 26/9/2019 và 03/10/2019 như đã nêu trên (kèm theo bản ảnh giám định).

Ngày 22/10/2019, Cơ quan Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 527 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon x, màu trắng, bên trong có lắp sim số 0978.104.301 của Đỗ Viết D.

Ngày 04/11/2019, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã có Bản kết luận giám định số 2319/KLGĐ kết luận: Không khôi phục được tin nhắn SMS và Zalo trong máy điện thoại di động Iphon X nêu trên.

Ngày 06/11/2019, Cơ quan Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Lệnh thu giữ điện tín số 28 đối với 02 thuê bao điện thoại di động số 0328.504.567 và số 0978.104.301của Trịnh Đình Th và Đỗ Viết D để thu giữ bảng kê chi tiết cuộc gọi đi, đến; tin nhắn đi, đến và thông tin chủ thuê bao trên từ ngày 26/9/2019 đến hết ngày 03/10/2019. Ngày 21/11/2019, Tập đoàn công nghiệp viễn thông Quân đội đã có công văn trả lời: “Chủ thuê bao số điện thoại 0328.504.567 là Lê Văn M, SN: 30/7/1987 trú tại xã Tiến Thắng – huyện Mê Linh – TP Hà Nội. Chủ thuê bao số 0978.104.301 là số đăng ký chính chủ của Đỗ Viết D, 02 số thuê bao nêu trên không còn lưu giữ các nội dung tin nhắn liên quan đến việc đánh bạc bằng hình thức chuyển số lô, số đề của Th và D”.

Cơ quan Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành xác minh đối với Lê Văn M trên địa bàn xã T, huyện ML, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được Mhiện đang làm gì, ở đâu.

Về xử lý vật chứng của vụ án:Trong quá Tr điều tra, Cơ quan Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã tạm giữ:

+ Tạm giữ của Phạm Văn Tr 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh đen, bên trong có lắp sim số 0865.504.404 và 5.110.000đ.

+ Tạm giữ của Đỗ Viết D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon X, màu trắng, bên trong có lắp sim số 0978.104.301 và 240.000đ.

+ Tạm giữ của Trịnh Đình Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A30, màu đen xám bên trong có lắp sim số 0328.504.567 và 9.000.000đ.

Đối với 03 chiếc điện thoại thu giữ của Tr, Th và D nêu trên, quá Tr điều tra xác định Tr, Th và D đã sử dụng các điện thoại này vào việc đánh bạc, do vậy cần tịch thu phát mại nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền tạm giữ của các bị cáo, quá Tr điều tra xác định số tiền trên không liên quan đến việc đánh bạc, do vậy cần trả lại cho các bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

với D 4.000.000đ ngày 26/9/2019 và 2.400.000đ ngày 03/10/2019); truy thu của D số tiền 13.755.000đ (gồm 6.4550.000đ ngày 26/9/2019 và 7.300.000đ ngày 03/10/2019) và nộp tiền truy thu vào ngân sách Nhà nước.

Đối với nội dung đơn của chị Phạm Thị B, sinh ngày 20/02/1990 trú tại BT, T, ML, Hà Nội tố cáo các đối tượng có hành vi đòi nợ thuê, gây rối trật tự công cộng. Cơ quan điều tra tách riêng ra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số: 09/VKS-P1 ngày 16 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo Trịnh Đình Th, Đỗ Viết D và Phạm Văn Tr về tội "Đánh bạc"theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc luận tội đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trịnh Đình Th từ 12 tháng đến 15 tháng tù tổng hợp bản án số 67/2019/HS-ST ngày 04/12/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/10/2019 nhưng được trừ vào thời gian tạm giam của bản án trước từ ngày 23/11/2018 đến ngày 22/02/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đỗ Viết D từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 05/10/2019 đến ngày 11/10/2019 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Tr từ 07 tháng đến 09 tháng tù,thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 05/10/2019 đến ngày 11/10/2019 Tịch thu của Phạm Văn Tr 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh đen, bên trong có lắp sim số 0865.504.404; của Đỗ Viết D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon X, màu trắng, bên trong có lắp sim số 0978.104.301; của Trịnh Đình Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A30, màu đen xám bên trong có lắp sim số 0328.504.567 để bán phát mại sung quỹ Nhà nước.

Trả lại cho bị cáo Tr 5.110.000đ; bị cáo D 240.000đ; bị cáo Th 9.000.000đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án với D 4.000.000đ ngày 26/9/2019 và 2.400.000đ ngày 03/10/2019); truy thu của D số tiền 13.755.000đ (gồm 6.4550.000đ ngày 26/9/2019 và 7.300.000đ ngày 03/10/2019) để sung vào ngân sách Nhà nước.

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình phạt tiền mỗi bị cáo từ 12.000.000đ đến 15.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá Tr điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, Tr tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo Trịnh Đình Th, Đỗ Viết D và Phạm Văn Tr đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:

Ngày 26/9/2019: Tr nhắn tin cho Th đánh lô, đề với tổng số tiền là 3.210.000đ. Đối chiếu với kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó thì Tr trúng lô, đề số tiền 2.400.000đ. Th, Tr đã thanh toán xong tiền thắng thua với nhau. Như vậy là số tiền dùng vào việc đánh bạc của Tr và của Th ngày 26/9/2019 là 5.610.000đ.

Cùng ngày Th nhắn tin cho D đánh lô, đề với tổng số tiền là 6.455.000đ. Đối chiếu với kết quả sổ số kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó thì Th trúng lô, đề số tiền 4.000.000đ. Th, D đã thanh toán xong tiền thắng thua với nhau. Như vậy là số tiền dùng vào việc đánh bạc của Th và của D ngày 26/9/2019 là 10.455.000đ.

Ngày 03/10/2019, Th nhắn tin cho D đánh lô, đề với số tiền là 7.300.000đ. Đối chiếu với kết quả sổ xố kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó thì Th trúng lô, đề số 2.400.000đ.Th, D đã thanh toán xong tiền thắng thua với nhau. Như vậy là số tiền dùng vào việc đánh bạc của Th và D ngày 03/10/2019 là 9.700.000đ.

[3] Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội "đánh bạc". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[4] Xét tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương gây bất bình cho quần chúng nhân dân. Do vậy, cần xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng chống tội phạm nói chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo như: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Văn Tr phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luậtHình sự.Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo Trịnh Đình Th và Đỗ Viết D bị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Về nhân thân ngày 18/11/2018, bị cáo Th có hành vi gây rối trật tự công cộng và ngày 04/12/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội "Gây rối trật tự công cộng" nên cần tổng hợp với bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.Đối với bị cáo Phạm Văn Tr ngày 30/8/2019, bị công an huyện ML, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng với mức phạt 4.000.000đ nhưng không lấy đó làm bài học mà lại phạm tội nên cần xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều làm nghề tự do không có công việc làm ổn định do vậy không áp dụng khoản 3 Điều 321 để phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo [7] Về xử lý vật chứng:Đối với điện thoại của các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu của Phạm Văn Tr 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh đen, bên trong có lắp sim số 0865.504.404; của Đỗ Viết D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon X, màu trắng, bên trong có lắp sim số 0978.104.301; của Trịnh Đình Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A30, màu đen xám bên trong có lắp sim số 0328.504.567 để bán phát mại sung quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền tạm giữ của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Tr 5.110.000đ; bị cáo D 240.000đ; bị cáo Th 9.000.000đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án - Đối với số tiền Tr, Th và D đánh bạc với nhau, do các bị cáo đã thanh toán với nhau nên cần truy thu của Tr số tiền 2.400.000đ; truy thu của Th số tiền 9.610.000đ (gồm 3.210.000đ tiền đánh bạc với Tr ngày 26/9/2019; tiền đánh bạc với D 4.000.000đ ngày 26/9/2019 và 2.400.000đ ngày 03/10/2019); truy thu của D số tiền 13.755.000đ (gồm 6.455.000đ ngày 26/9/2019 và 7.300.000đ ngày 03/10/2019) để sung vào ngân sách Nhà nước.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Đình Th, Đỗ Viết D và Phạm Văn Tr phạm tội ''Đánh bạc''.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trịnh Đình Th 10 (Mười) tháng tù.Tổng hợp với hình phạt 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù của bản án số: 67/2019/HS-ST ngày 04/12/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo Trịnh Đình Th phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (Ba) năm 01 (Một) tháng tù,thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/10/2019 nhưng được trừ vào thời gian tạm giam của bản án số: 67/2019/HS-ST ngày04/12/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc từ ngày 23/11/2018 đến ngày 22/02/2019.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Đỗ Viết D 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 05/10/2019 đến ngày 11/10/2019.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Phạm Văn Tr 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 05/10/2019 đến ngày 11/10/2019.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Truy thu của bị cáo Trịnh Đình Th số tiền 9.610.000đồng; của bị cáo Đỗ Viết D số tiền 13.755.000đồng; của bị cáo Phạm Văn Tr số tiền 2.400.000đồngđể sung vào ngân sách Nhà nước.

Tịch thu của Phạm Văn Tr 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu xanh đen, bên trong có lắp sim số 0865.504.404; của Đỗ Viết D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon X, màu trắng, bên trong có lắp sim số 0978.104.301; của Trịnh Đình Th 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy A30, màu đen xám bên trong có lắp sim số 0328.504.567 đều đã cũ, qua sử dụng để bán phát mại sung quỹ Nhà nước.

Trả lại cho bị cáo Tr 5.110.000đồng; bị cáo D 240.000đồng; bị cáo Th 9.000.000đồng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 02 tháng 3 năm 2020 giữa Công an tỉnh Vĩnh Phúc với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc.

Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo Trịnh Đình Th, Đỗ Viết D và Phạm Văn Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. 


47
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 20/2020/HS-ST ngày 06/05/2020 về tội đánh bạc 

      Số hiệu:20/2020/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Vĩnh Phúc
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:06/05/2020
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về