Bản án 20/2019/HS-ST ngày 12/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 20/2019/HS-ST NGÀY 12/07/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 12/7/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2019/TLST-HS ngày 20/6/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST-HS ngày 01/7/2019 đối với bị cáo:

Lỳ Hu X (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1970 tại xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Ch, xã S, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 5/10; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lỳ Lỳ X (đã chết) và bà Lỳ Á S (đã chết); Có chồng là Chu Tự S (sinh năm 1967) và có 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án (Ngày 08/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 27 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy); Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/5/2019 đến ngày 07/5/2019, tạm giam từ ngày 07/5/2019 đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 04/5/2019 Lỳ Hu X một mình đi từ bản S, xã S, huyện M tìm mua thuốc phiện về sử dụng, đi đến ngã ba xã S thì X gặp và đi nhờ xe máy của một người đàn ông lạ mặt đến cầu treo bản L, xã L thì xuống xe, người đàn ông cho X đi nhờ xe đi về hướng xã Ch, còn X đi bộ vào trong bản L tìm mua thuốc phiện, đi bộ được một đoạn thì X gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt 03 gói thuốc phiện với giá tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Mua bán xong ông ta đi đâu X không biết, Còn X cất giấu số thuốc phiện vừa mua được vào trong túi áo bên phải và quay về, trên đường về gặp và đi nhờ xe máy của một người đàn ông lạ mặt đi cùng chiều, đi về đến ngã ba đường chỗ lối vào xã S thì X xuống xe, người đàn ông cho X đi nhờ xe đi về hướng xã S, X đi bộ quay vào bản S, đến khoảng 20 giờ 50 phút thì bị Tổ công tác đồn biên phòng S phát hiện bắt quả tang X tàng trữ trái phép thuốc phiện trong người, đồng thời thu giữ toàn bộ số thuốc phiện trên người X. X khai nhận mục đích X mua thuốc phiện về là sử dụng cho bản thân, hai người đàn ông lạ mặt đã cho X đi nhờ xe máy, Xó không nói cho họ biết là X đi mua thuốc phiện.

Kết luận giám định số 498/GĐ-PC09 ngày 19/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lỳ Hu X là thuốc phiện; Khối lượng vật chứng thu giữ của Lỳ Hu X là 21,96 gam.

Cáo trạng số 20/CT-VKS-MN ngày 19/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Lỳ Hu X để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Lỳ Hu Xó phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Lỳ Hu X khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định, kết luận điều tra, cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vậy đã có đủ căn cứ để xác định: Hành vi tàng trữ trái phép 21,96 gam thuốc phiện với mục đích để sử dụng của bị cáo Lỳ Hu X đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 20/CT-VKS-MN ngày 19/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Năm 2017 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy, sau khi chấp hành án xong trở về địa phương sinh sống bị cáo không những không tu dưỡng rèn luyện bản thân mà ngày 04/5/2019 lại thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khi chưa được xóa án tích. Đây chính là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Xét đề nghị này của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, hợp pháp nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát.

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Đối với đối tượng người đàn ông dân tộc Mông đã bán thuốc phiện cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với 2 người đàn ông đã cho X đi nhờ xe máy khi đi mua thuốc phiện và khi quay về, khi đi nhờ xe X không biết họ là ai và cũng không nói cho họ biết là đi mua thuốc phiện và khi mua được thuốc phiện cũng không nói là cất giấu thuốc phiện trong người nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

[2] Về xử lý vật chứng: Đối với số thuốc phiện là 18,49 gam còn lại sau khi đã trích giám định cần tịch thu tiêu hủy.

[3] Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Lỳ Hu X phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Lỳ Hu X 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 04/5/2019.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 18,49 gam thuốc phiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2019 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lỳ Hu X.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


66
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HS-ST ngày 12/07/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:20/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Nhé - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về