Bản án 20/2019/HS-ST ngày 08/07/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT – TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 20/2019/HS-ST NGÀY 08/07/2019 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 08 tháng 7 năm 2019, tại Phòng xử án hình sự TAND huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐXXST-HS ngày 19/6/2019 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 46/2019/HSST-QĐ ngày 02/7/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giáp Văn T, Sinh năm: 1993 tại Bắc Giang; Nơi ĐKNKTT: thôn 02, xã R , huyện S, tỉnh Đăk Lăk; Chỗ ở: không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: chạy xe ôm (Grap); trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giáp Văn T2, sinh năm 1958 và con bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1960, hiện sinh sống tại: Thôn I, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai; bị cáo chưa có vợ, con; bị bắt tạm giữ từ ngày 30/01/2019 đến ngày 02/02/2019 chuyển sang biện pháp tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jút - có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1; trú tại: Thôn I, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 18 giờ 30 phút, ngày 30/01/2019 Giáp Văn T là người chạy xe Grab đang đứng đón khách tại Bến xe khách phía Nam thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk thì có một thanh niên tên V (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điện thoại hỏi đang ở đâu, có nhận chở hàng không thì T trả lời “có”. Khoảng 15 phút sau, người thanh niên này chở một thùng cát tông vỏ kẹo Danisa đã qua sử dụng, miệng thùng được dán kín bằng băng keo, bên trong thùng chứa 179 quả pháo ông sư đến thuê T vận chuyển xuống huyện CJ, tỉnh Đăk Nông giao cho một người không biết tên tuổi, địa chỉ có số điện thoại 0367489001. T hỏi bên trong thùng là hàng gì thì người tên V nói là pháo nổ. T do dự chưa dám nhận vận chuyển thì V nói chỉ có mấy chục quả thôi, không sao đâu nên T chấp nhận chở thùng cát tông trên xuống huyện CJ, tỉnh Đăk Nông với công vận chuyển là 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô 47P1-199.59 chở thùng cát tông chứa pháo xuống đến Khu công nghiệp T thuộc Thôn 2, xã T, huyện CJ thì bị Công an huyện Cư Jut bắt quả tang, thu giữ một thùng cát tông vỏ kẹo Danisa đã qua sử dụng, miệng thùng được dán kín bằng băng keo, khi mở thùng ra bên trong chứa 179 (một trăm bảy mươi chín) quả hình tròn nghi là quả pháo ông sư.

Vật chứng của vụ án Cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Jút thu giữ:

- Một thùng cát tông vỏ kẹo Danisa đã qua sử dụng, miệng thùng được dán kín bằng băng keo, khi mở thùng ra bên trong chứa 179 (một trăm bảy chín) quả hình tròn.

- Một xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 47P1- 199.59 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 012960.

- Một điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu Vivo, số IME 866580037026576 gắn thẻ sim số 0964607737.

Tại kết luận giám định số 1205/C09B, ngày 01/02/2019 của Phân Viện khoa học hình sự tại Tp. Hồ Chí Minh kết luận: 179 (một trăm bày chín) quả hình bóng điện tròn dài 6,5cm gửi đến giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, bên trong có chứa thành phần của thuốc pháo, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, khối lượng 6,6kg. Số pháo còn lại sau giám định là 175 quả.

Cáo trạng số 21/CTr-VKS ngày 13/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Giáp Văn T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Giáp Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jut truy tố bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” là đúng không oan.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T1 khai: Xe mô tô 47P1 – 199.59 mặc dù người đứng tên trong Giấy đăng ký là Giáp Văn T nhưng đây là tài sản của bà vì khi sang làm ăn tại xã C, tỉnh Gia Lai do có nhu cầu mua xe đi lại nhưng không có đăng ký hộ khẩu nên bà gửi tiền cho T mua giùm, đồng thời nhờ T đứng tên trong

Giấy đăng ký xe; sau đó T mượn xe để chạy xe ôm (Grab). Bà T1 cung cấp 03 đơn xác nhận có chữ ký của 03 người hàng xóm của bà T1 là: Vũ Thanh P, Nguyễn Hữu M và Nguyễn Thị Q tại Thôn I, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai có nội dung “chiếc xe do T đứng tên là do tiền bà T1 dành dụm được”. Bà T1 có có yêu cầu được nhận lại chiếc xe 47P1 – 199.59.

Tại phiên tòa , đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Giáp Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phat bị cáo Giáp Văn T từ 05 đến 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 175 quả pháo ông sư còn lại sau giám định.

- Tịch thu sung công quỹ một xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 47P1- 199.59; một điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu Vivo, số IME 866580037026576 gắn thẻ sim số 0964607737.

Về yêu cầu nhận lại chiếc xe YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 47P1- 199.59 của bà Nguyễn Thị T1: Đề nghị HĐXX không chấp nhận vì những đơn xác nhận của bà T1 cung cấp không có giá trị pháp lý.

Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo, HĐXX xét thấy: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã xác định được như sau: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/01/2019, tại Khu công nghiệp T thuộc Thôn 2, xã T, huyện CJ, tỉnh Đăk Nông, Công an huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông bắt quả tang Giáp Văn T điều khiển xe mô tô 47P1-199.59 vận chuyển một thùng cát tông vỏ kẹo Danisa đã qua sử dụng, miệng thùng được dán kín bằng băng keo bên trong có 179 quả pháo ông sư, khối lượng 6,6kg để giao cho một người không biết tên tuổi, địa chỉ có số điện thoại 0367489001. Do đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo Giáp Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) .

“Điều 191. Tội vận chuyển hàng cấm

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

……………………………………………………

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

…………………………………………….”

[3] Xét về mặt chủ thể và mặt chủ quan của bị cáo Giáp Văn T: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật vì ngày 08/8/1994 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 406 – TTg về việc Cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo, theo đó kể từ ngày 01/01/1995 nghiêm cấm sản xuất, buôn bán và đốt các loại pháo nổ, thuốc pháo nổ trong phạm vi cả nước; mọi người dân đều nghiêm chỉnh chấp hành; Luật Đầu tư 2014 ra đời, có hiệu lực từ 01/01/2017 thì “pháo nổ” thuộc danh mục hàng cấm. Tuy nhiên, do ý thức coi thường pháp luật, mục đích kiếm tiền trái phép nên dù biết được thùng hàng đối tượng tên V thuê chở là pháo nổ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi vận chuyển từ thành phố Buôn Ma Thuột xuống CJ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét về nhân thân bò caùo chöa coù tieàn aùn, tieàn söï; bò caùo phaïm toäi laàn ñaàu vaø thuoäc tröôøng hôïp ít nghieâm troïng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, vì vậy cần xem đây là những tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng, nhaân đạo của Pháp luật Nhà nước ta. Các tình tiết giảm nhẹ này thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2017).

Với 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 và bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào của Bộ luật hình sự thì đề xuất áp dụng Điều 54 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

Đối với người tên V thuê T vận chuyển số pháo trên xuống huyện CJ, theo lời khai của T thì V có số điện thoại 0962542943, nhà gần bến xe phía Nam, thuộc Phường X, Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk. Tuy nhiên, qua xác minh tại Công an Phường X, Thành phố Buôn Ma Thuột thì không có đối tượng nào như bị can cung cấp. Số điện thoại 0962542943 là của Nguyễn Thị H, trú tại TX, TT, Thái Bình nhưng hiện tại H không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. Người thanh niên nhận hàng (pháo) tại huyện CJ có số điện thoại 0367489001 mà bị cáo cung cấp, qua xác minh cho thấy: Người đứng tên chủ thuê bao số điện thoại trên là Nguyễn Hoàng A, trú tại EL, huyện CJ. Tuy nhiên, Nguyễn Hoàng A đã mất số điện thoại trên vào khoảng giữa năm 2017, không biết ai sử dụng, Hoàng A không biết Giáp Văn T và cũng không đặt mua pháo của người tên V. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan CSĐT tách hành vi mua bán hàng cấm của hai đối tượng trên để tiếp tục điều tra, khi nào đủ căn cứ xử lý sau.

Hội đồng xét xử xét: Lời đề nghị mức hình phạt từ 05 đến 06 tháng tù của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tại phiên tòa là có căn cứ, đúng luật, phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo do vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

[6] Hình phạt bổ sung: xét bị cáo Giáp Văn T có điều kiện kinh tế khó khăn, không đủ khả năng đảm bảo thực hiện nghĩa vụ về tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Đối với yêu cầu được nhận lại yêu cầu nhận lại chiếc xe YAMAHA Sirius, biển kiểm soát 47P1- 199.59 của bà Nguyễn Thị T1, HĐXX xét thấy: 03 đơn xác nhận có chữ ký của 03 người hàng xóm của bà T1 là: Vũ Thanh P, Nguyễn Hữu M và Nguyễn Thị Q tại Thôn I, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai có nội dung “chiếc xe do T đúng tên là do tiền bà T1 dành dụm được” bà T1 không cung cấp thêm chứng cứ hay căn cứ chứng minh khác để chứng minh xe mô tô 47 P1 – 199.59 là tài sản của bà. 03 đơn xác nhận không có giá trị pháp lý chứng minh cho việc bà T1 nhờ bị cáo đứng tên chủ sở hữu của chiếc xe. Bà T1 đã không chứng minh được bà là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe 47 P1 – 199.59 nên HĐXX không xem xét giải quyết đối với yêu cầu của bà T1.

[8] Về xử lý vật chứng vụ án: áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy 175 quả pháo ông sư còn lại sau giám định.

- Tịch thu sung công quỹ một xe mô tô biển kiểm soát 47P1- 199.59 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 012960; 01 (một) điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu Vivo, số IME 866580037026576 gắn thẻ sim số 0964607737.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 46; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 299, Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố: Bị cáo Giáp Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Giáp Văn T 05 (Năm) tháng 08 (Tám) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/01/2019.

Tuyên trả tự do cho bị cáo Giáp Văn T tại phiên tòa.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 175 quả pháo ông sư còn lại sau giám định; Tịch thu sung công quỹ một xe mô tô biển kiểm soát 47P1-199.59 kèm theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 012960; 01 (một) điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu Vivo, số IME 866580037026576 gắn thẻ sim số 0964607737.

(Đặc điểm có trong biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an Huyện Cư Jút và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CJ ngày 02/7/2019).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Giáp Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


98
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HS-ST ngày 08/07/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

Số hiệu:20/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cư Jút - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về