Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 20/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2019 VỀ LY HÔN VÀ NUÔI CON

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09/5/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị M, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Anh V, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt lần 02 không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 20/02/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị M trình bày: Chị M và anh V cưới nhau năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 26/6/2006. Vợ chồng sống hạnh phúc được hai năm thì phát sinh mâu thuẫn kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân là do anh V ăn chơi, đá gà, đánh bạc ăn thua bằng tiền. Chị M có khuyên ngăn nhưng anh V không sửa mà còn đập phá đồ trong nhà và đánh chị M nhiều lần. Do đó, chị M xin được ly hôn với anh V.

Anh chị có hai người con chung là cháu T, sinh ngày 02/4/2007, giới tính nữ và N, sinh ngày 31/10/2010, giới tính nữ. Hiện tại hai cháu đang sống chung với chị M, chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi hai người con. Chị M trình bày không có tài sản và nợ chung; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và cấp dưỡng cho chị khi ly hôn.

* Bị đơn là anh V vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị M thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình và chấp hành nội quy phiên tòa. Bị đơn anh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh V là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M; đồng thời giao cháu T và N cho chị M nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị M có yêu cầu xin ly hôn nên Tòa án thụ lý đơn giải quyết theo khoản 1 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình. Tòa án đã tổ chức hòa giải để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn nhưng anh V vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với anh V nhưng anh V vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn là anh V.

Chị M yêu cầu được ly hôn với anh V và yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu giải quyết các vấn đề khác nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị M và anh V là tranh chấp ly hôn và nuôi con.

[2] Về nội dung vụ án: Năm 2006 chị M và anh V đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, chị M và anh V xảy ra mâu thuẫn. Theo chị M trình bày là do anh V không lo làm ăn, tụ tập đánh bạc ăn thua bằng tiền (đánh bài, đá gà); chị M nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh V không sửa đổi mà còn đập phá đồ trong gia đình và đánh chị M. Anh V là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải và xét xử, nhưng anh V đều vắng mặt không lý do. Việc anh V cố tình vắng mặt là đã T đánh mất cơ hội được hòa giải hàn gắn và trình bày ý kiến để được xem xét.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị M và anh V đã kéo dài; hiện nay anh chị không sống chung với nhau; cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, anh V không có thiện chí hàn gắn nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M.

[3] Về con chung: Chị M và anh V có hai người con chung là T, sinh ngày 02/4/2007, giới tính nữ và N, sinh ngày 31/10/2010, giới tính nữ, cả hai người con đang sống chung với chị M và có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị M. Chị M xin được quyền nuôi hai người con; anh V không thể hiện ý kiến của mình.

Xét thấy, hoàn cảnh gia đình anh V và chị M khó khăn, hiện nay anh V đi làm, ít ở địa phương, không có điều kiện chăm sóc các con; chị M là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai người con từ trước đến nay; hai cháu cũng có nguyện vọng ở với chị M. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu T và cháu N cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng. Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai được cản trở. Trường hợp chị M vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh V có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng khi ly hôn: Chị M và anh V không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản và nợ chung: Chị M trình bày không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh V không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xét; nếu phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án khác.

[6] Về án phí sơ thẩm: Chị M là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 147, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị M đối với anh V. Chị M được ly hôn với anh V.

2- Về con chung: Giao T, sinh ngày 02/4/2007 và N, sinh ngày 31/10/2010 cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị M vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con thì anh V có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3- Án phí sơ thẩm: Chị M chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002299 ngày 21/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

4- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 31/05/2019 về ly hôn và nuôi con

Số hiệu:20/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Thuận - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về