Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 31/01/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 20/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/01/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 31 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 217/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm2018 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thu A; sinh năm 1971; nơi ĐKHKTT: Số 8 ngách 765/115A đường Nguyễn Văn B, tổ 8 phường C, quận D, thành phố Hà Nội; nơi tạm trú: Cộng hòa Liên bang Đức; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đào Văn E; sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn 4, xã G, huyện H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong Đơn xin ly hôn nhận ngày 22/11/2018, nguyên đơn là chị Hoàng Thu A trình bày: Chị A và anh E kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin, Cộng hòa Liên bang Đức ngày 02/4/2014. Sau khi kết hôn, anh E và chị A chung sống tại Cộng hòa Liên bang Đức. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Anh E không quan tâm đến chị A và gia đình chị A. Mặc dù chung sống cùng nhà nhưng hai bên không còn quan tâm đến nhau. Đến tháng 9 năm 2015 do hết hạn thời gian cư trú nên anh E quay trở về Việt Nam. Chị A cũng nhiều lần làm thủ tục bảo lãnh cho anh E được sang lại Cộng hòa Liên bang Đức nhưng không được cơ quan có thẩm quyền của Cộng hòa Liên bang Đức chấp nhận do không đủ điều kiện. Kể từ tháng 9 năm 2015 cho đến cuối năm 2017, thỉnh thoảng anh E có liên lạc với chị A nhưng chỉ là để hỏi về việc bảo lãnh. Từ đầu năm 2018 cho đến nay hai bên không còn liên lạc, quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm với anh E không còn, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị A yêu cầu được ly hôn với anh E.

Về quan hệ nuôi con chung và tài sản chung: Chị A trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản ngày 04/01/2019 và các văn bản khác, bị đơn - anh Đào Văn E trình bày: Anh E và chị A quen biết và tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2000, nhưng đến năm 2014 mới đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin, Cộng hòa Liên bang Đức ngày 02/4/2014. Đến năm 2015, theo quy định của Cộng hòa Liên bang Đức anh E phải về Việt Nam để chờ chị A làm thủ tục bảo lãnh mới tiếp tục được sinh sống tại đó. Từ đó cho đến nay chị A đã hai lần làm thủ tục để bảo lãnh cho anh E nhưng không có kết quả. Chị A làm đơn xin ly hôn không trao đổi, thông tin với anh E nhưng xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh E đồng ý ly hôn với chị A.

Về quan hệ nuôi con chung: Trên thực tế anh E và chị A có một con chung là Hoàng Đào Tấn I, sinh năm 2002 nhưng đến năm 2014 anh E, chị A mới đăng ký kết hôn nên Giấy khai sinh của cháu I không có tên người cha. Vì vậy, về thủ tục pháp lý, anh E chưa được xác định là bố đẻ của cháu I nên anh E thống nhất với lời trình bày của chị A và không có yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về quan hệ tài sản chung: Anh E xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Do đang sinh sống tại nước ngoài nên chị A đề nghị xét xử vắng mặt. Anh E vì lý do cá nhân không thể có mặt tại Tòa án nên cũng đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt anh E.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn giữa anh E và chị A đã sâu sắc, các bên đương sự đều thống nhất xin ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A; về con chung và tài sản chung: Anh E và chị A không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Do không thể có mặt trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án, chị A, anh E đều đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án và xét xử vắng mặt họ. Đề nghị của chị A, anh E phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị A, anh E.

- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thu A và anh Đào Văn E kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin, Cộng hòa Liên bang Đức ngày 02/4/2014 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hòa thuận, bình thường. Năm 2015, do hết thời hạn được cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đức nên anh E quay trở về Việt Nam. Chị A đã làm thủ tục để bảo lãnh cho anh E nhưng không có kết quả. Do phải sống xa nhau nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt và hiện các bên không còn liên lạc, quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và không còn khả năng đoàn tụ nên chị A có yêu cầu ly hôn. Anh E đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy chị A, anh E đều thống nhất ly hôn, quan điểm của các bên là tự nguyện và phù hợp với tình trạng gia đình, mối quan hệ giữa anh E, chị A và phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[4] Về quan hệ nuôi con chung và quan hệ tài sản chung: Chị A, anh E đều thống nhất trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí sơ thẩm:

[5] Chị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật - Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thu A

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thu A được ly hôn với anh Đào Văn E.

2. Về quan hệ nuôi con chung và quan hệ tài sản chung: Anh Đào Văn E và chị Hoàng Thu A không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Hoàng Thu A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đông đã nộp theo Biên lai thu số 0001551 ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng . Chị Hoàng Thu A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong thời hạn 01 tháng (Một tháng) kê tư ngay bản án được tống đạt hợp lệ , chị Hoàng Thu A có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. 

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết anh Đào Văn E có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 31/01/2019 về ly hôn

Số hiệu:20/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về