Bản án 20/2018/HSST ngày 14/12/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN L,TỈNH HÀ T

BẢN ÁN 20/2018/HSST NGÀY 14/12/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 14/12/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Can L mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2018/TLST ngày 15/11/2018 đối với bị cáo:

Trần Văn H - Sinh ngày 01/6/1979

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã Thạch L, huyện Thạch H, Tỉnh Hà T.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 04/12

Con ông: Trần Văn S (1945); Con bà: Nguyễn Thị C (1954)

Đều làm ruộng và trú tại Thôn K, xã Thạch L, huyện Thạch H, Tỉnh Hà T.

Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Tuyết - Sinh 1981; Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Trú tại: Thôn K, xã Thạch L, huyện Thạch H, Tỉnh Hà T.

Con: Có 01 con, sinh năm 2003.

Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2009, bị UBND Tinh Ha T đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 02 năm theo quyết định số 169/QĐ-UB ngày 16/01/2009.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Anh Dang Dinh L - Sinh năm 1998 - Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Trú tại: Thôn Tra D, xã Quang Lộc, Can L, Hà Tĩnh (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Phan Duy Minh - Sinh năm 1969 - Nghề nghiệp: Làm ruộng (Có mặt)

- Chị Trần Thị T - Sinh năm 1968 - Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Đều trú tại: Xóm Trung T, xã Việt X, Thạch H, Hà Tĩnh (Có mặt).

- Chị Nguyễn Hồng D - Sinh năm 1982

Quê quá: Xã Hiếu P, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh L.

Nơi cư trú: 205/10A, đường số 1, Phường 3, Quận Gò vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Anh Phạm Văn V - Sinh năm 1989 - Nghề nghiệp: Buôn bán.

Trú tại: Khối 10, Thị trấn N, huyện Can L, Hà T (Vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Chị Trần Thị Mỹ T - Sinh năm 1976 - Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Trú tại: Thôn Tra D, xã Quang L, Can L, Hà T (Vắng mặt).

- Ông Lê Công T - Nghề nghiệp: Công an viên xã Thạch L.

Trú tại: Thôn K, xã Thạch L, Thạch H, Hà T (Có mặt).

- Ông Trần Văn S - Sinh năm 1945

Trú tại: Thôn K, xã Thạch L, Thạch H, Hà T (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ ngày 04/9/2018, Trần Văn H, sinh năm 1979, trú tại Thôn K, xã Thạch L, huyện Thạch H, Tỉnh Hà T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ATTILA Victoria màu đen, BKS 64VI-1856 đăng ký tên Nguyễn Hồng D trú tại Xã Hieu P, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh L (Đây là chiếc xe Hiền mua lại của anh Phạm Văn V bán sắt vụn trú tại khối 10 thị trấn Nghèn) đi từ nhà mình sang xã Quang L, huyện Can L. Khi đi đến nhà anh Dang Dinh L sinh năm 1998 tại Thôn Tra D, xã Quang L, huyện Can L (Lúc này khoảng 00 giờ 58 phút), Hiền dựng xe mô tô trước cổng, phát hiện trong sân nhà anh L điện sáng và có 03 chiếc xe dựng ở sân không có ai trông coi nên H đột nhập vào theo hướng bờ rào không có tường bao. Khi vào sân nhà thấy 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Monmentium màu sơn đỏ của anh Dang Dinh L đang dựng ở sân, không khóa cổ, không có chìa khóa nên Hiền dắt bộ ra khỏi quán rồi khiêng để lên trên yên xe mô tô BKS 64V1-1856. Sau đó H điều khiển xe mô tô BKS 64V1-1856 chở xe máy điện vừa trộm được đi theo hướng Quốc lộ 15B về huyện Thạch H, Tỉnh Hà T bán cho vợ chồng anh Phan Duy Minh và Trần Thị T trú tại thôn Trung Trinh, xã Viet X, huyện Thạch H, Tỉnh Hà T với giá 2.650.000 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng), số tiền bán xe H sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Sáng ngay 04/9/2018, phát hiện mất xe, anh L và người nhà kiểm tra Camera gia đình phát hiện thấy người lấy trộm xe là một người quen tên Hiền ở xã Thạch L, Thạch H nên đã làm đơn trình báo cơ quan Công an. Sau khi trộm và bán được xe, H bỏ trốn khỏi địa phương, đến 17/9/2018, Trần Văn H đến cơ quan CSĐT Công an huyện Can L, Tỉnh Hà T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền bán xe 2.650.000 đồng. Khi biết chiếc xe máy điện mua của Hiền là tài sản do H trộm cắp, anh Phan Duy M đã đưa chiếc xe đó giao nộp cho Công an huyện Can L.

Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 13/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện Can L xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt, chiếc xe máy điện nhãn hiệu Monmentium, số loại 133S, màu sơn đỏ đã qua sử dụng, số khung 621409814204, số máy 161CP0325 (đăng ký tên Dang Dinh L) trị giá là 2.650.000 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng). Chiếc xe máy điện này đã được thu hồi trả lại cho anh Dang Dinh L, chiếc xe ATILA hiền sử dụng đi trộm cắp bị Cơ quan điều tra thu giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Với hành vi trên Trần Văn H bị VKSND huyện Can L, Tỉnh Hà T truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS tại cáo trạng số 20 ngày 13/11/2018. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo từ 06 - 09 tháng tù, thời gian thử thách từ 12-18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Thạch L, Thạch H, Hà Tĩnh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách

Về trách nhiệm dân sự: Anh L đã nhận lại chiếc xe máy điện và không có yêu cầu gì nên đề nghị miễn xét, vợ chồng anh Phan Duy M không có yêu cầu gì nên đề nghị miễn xét.

Về xử lý vật chứng tài sản: Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 2.650.000 đồng do phạm tội mà có mà Trần Văn H đã giao nộp theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS. Đối với chiếc xe ATTILA Victoria màu đen, BKS 64V1- 1856 thu giữ của H do chị Diễm khai đã bán cho anh Võ Huy M ở Thiên Lộc, Can L nhưng anh M hiện không có mặt tại địa phương, còn anh V khai mua xe này ở Vinh L của một người không nhớ tên và địa chỉ và hiện giấy tờ xe đã bị mất nên sau chị Diễm ai là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này chưa xác định được vì vậy cần tiếp tục tục tạm giữ trong thời hạn 01 năm kể từ ngày tuyên án nếu không xác định được chủ sở hữu thì hóa giá sung quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 2 điều 47 BLHS và khoản 2 điều 228 BLDS.

Bị cáo nhất trí như truy tố cũng như luận tội, đề xuất của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo hối hận, nhận thức rõ sai phạm hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bỏ đi đã lâu, một mình nuôi con nên xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ cho hưởng án treo.

Người bị hại không có tranh luận, không yêu cầu gì về bồi thường và xin giảm nhẹ, xử phạt mức thấp nhất đối với bị cáo.

Người liên quan Phan Duy M, Trần Thị T không có tranh luận, không có yêu cầu gì về dân sự.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Can L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can L, Kiểm sát viên đã thực hiện chức năng, nhiệm vụ hợp pháp, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo là khách quan, phù hợp với cáo trạng truy tố, lời khai người bị hại, người liên quan, người làm chứng cũng như các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ căn cứ để kết luận: Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, vào khoảng gần 24 giờ ngày 03/9/2018, Trần Văn H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ATTILA Victoria màu đen, BKS 64VI- 1856 đăng ký tên Nguyễn Hồng D trú tại Xã Hieu P, huyện Vũng L, tỉnh Vĩnh L (Đây là chiếc xe Hiền mua lại của anh Phạm Văn Vinh bán sắt vụn trú tại khối 10 thị trấn Nghèn) đi từ nhà mình sang xã Quang Lộc, huyện Can L để trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà anh Dang Dinh L sinh năm 1998 tại Thôn Tra D, xã Quang L, huyện Can L (Lúc này khoảng 00 giờ 58 phút ngày 04/9/2018) phát hiện trong sân nhà anh Lâm điện sáng và có 03 chiếc xe dựng ở sân không có ai trông coi nên Hiền lén lút đột nhập vào sân nhà anh Lâm và lấy trộm 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Monmentium màu sơn đỏ đã qua sử dụng, có biển kiểm soát 38MĐ1 -716.000 đăng ký mang tên Dang Dinh L đưa về bán cho vợ chồng anh Phan Duy M và Trần Thị T trú tại thôn Trung Trinh, xã Viet X, huyện Thạch H, Tỉnh Hà T lấy 2.650.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.

Theo kết quả xác minh, định giá của cơ quan chức năng, chiếc xe máy điện nhãn hiệu Monmentium màu sơn đỏ đã qua sử dụng, có biển kiểm soát 38MD1-716.000 của anh Dang Dinh L tại thời điểm bị mất trị giá 2.650.000 đồng. Sau khi bán xe, do lo sợ Hiền đã bỏ đi khỏi địa phương và đến ngày 17/9/2018 ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền 2.650.000 đồng cho Cơ quan điều tra Công an huyện Can L.

Hành vi trên của bị cáo Trần Văn H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó việc khởi tố, truy tố, xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản, điều luật nói trên là có căn cứ, đúng người đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt tuy không lớn nhưng đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Về nhân thân năm 2009 bị cáo đã bị đưa đi trung tâm giáo dục Hành vi của bị cáo đáng lẽ cần xử lý nghiêm tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trị giá tài sản phạm tội không lớn đã được thu hồi, quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, thực sự ăn năn hối cải, tự nguyện đầu thú, giao nộp tài sản, sai phạm trước đây ở mức độ hành chính xảy ra đã lâu, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, vợ bỏ đi đã lâu, một mình nuôi con có xác nhận của chính quyền địa phương nên xét thấy chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cơ hội được cải tạo tại địa phương để thành người có ích nhằm thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Căn cứ các tình tiết của vụ án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng, nghĩ cần áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 BLHS xử phạt bị cáo mức án từ 07 - 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách tương ứng và giao bị cáo cho UBND xã Thạch L, huyện Thạch H quản lý theo dõi trong thời gian thử thách là phù hợp và đủ nghiêm. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong vụ án này có vợ chồng Phan Duy M, Trần Thị T do quen biết, tin tưởng H và đang cần mua xe cũ cho con đi học nên đã mua chiếc xe máy điện do H đem bán nhưng không biết đó là xe H trộm cắp. Sau khi biết sự việc anh M đã đưa xe giao nộp cho Công an huyện Can L. Vì vậy Cơ quan điều tra đã giáo dục, nhắc nhở mà không xử lý trách nhiệm liên quan đối với Phan Duy M, Trần Thị T trong vụ án này là có căn cứ. Anh M, chị Thảo cần rút kinh nghiệm khi thực hiện hiện các giao dịch dân sự trong cuộc sống thường ngày.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Dang Dinh L đã nhận lại đầy đủ tài sản, nay anh L cũng như vợ chồng anh Phan Duy M, Trần Thị T và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên miễn xét.

[5] Về vật chứng, tài sản: Cơ quan điều tra Công an huyện Can L trong quá trình điều tra đã thu giữ của Trần Văn H 2.650.000 đồng và 01 xe máy ATTILA Victoria màu đen, BKS 64V1- 1856. Xét số tiền 2.650.000 đồng Trần Văn H đã giao nộp nói trên là tài sản do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 47 BLHS và điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS.

Đối với chiếc xe máy ATTILA Victoria màu đen, BKS 64VI- 1856 có số khung PLGKACD8D001840, số máy VMVT3A-D001340 Hiền mua của anh V và sau đó đã sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản lẽ ra cần tịch thu sung quỹ nhà nước nhưng xét thấy do chị Diễm (Chủ sở hữu đầu tiên của chiếc xe) khai đã bán cho anh Võ Huy M ở Thiên Lộc, Can L nhưng anh Miền hiện không có mặt tại địa phương, còn anh V (Người đã bán xe này cho H) khai mua xe này ở Vinh L của một người không nhớ tên và địa chỉ và hiện giấy tờ xe đã bị mất nên sau chị Diễm ai là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe này chưa xác định được, vì vậy cần giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can L tiếp tục tạm giữ chiếc xe máy này. Sau thời hạn 01 năm kể từ ngày tuyên án công khai, nếu không xác định được chủ sở hữu thì hóa giá sung quỹ nhà nước chiếc xe máy nói trên theo quy định tại khoản 2 điều 47 BLHS và khoản 2 điều 228 Bộ luật Dân sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo luật định. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65  BLHS, xử phạt Trần Văn H 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo cho UBND xã Thạch L, huyện Thạch H, tỉnh Hà T theo dõi, quản lý trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cũ trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng tài sản: Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 2 điều 47 BLHS; điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS; khoản 2 điều 228 BLDS:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 2.650.000 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tiền NHNN Việt Nam là tài sản do phạm tội mà có.

- Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can L tiếp tục tạm giữ chiếc xe máy nhãn hiệu ATTILA Victoria dạng xe tay ga màu đen đã qua sử dụng, có số khung PLGKACD8D001840, số máy VMVT3A-D001340, trên xe có gán biển kiểm soát BKS 64V1-1856 đã thu giữ của Trần Văn H. Sau thời hạn 01 (Một) năm kể từ ngày tuyên án công khai sơ thẩm nếu không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe máy này thì tịch thu, hóa giá, sung quỹ nhà nước.

Tình trạng đặc điểm các vật chứng, tài sản như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/11/2018 giữa Công an huyện Can Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Phan Duy M, Trần Thị T, vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Hồng D, Phạm Văn V. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2018/HSST ngày 14/12/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:20/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Can Lộc - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:14/12/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về