Bản án 20/2018/HNGĐ-ST ngày 28/03/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 20/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/03/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 28/3/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 428/2017/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXX - ST ngày 13 tháng 2 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 13/QĐ-HPT ngày 20/3/2018 giữa các đương sự:

1.  Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Hương M, sinh năm 1975.

Địa chỉ: ấp D, xã G, huyện T, tỉnh Đ

2. Bị đơn: Anh Lữ Hồng T, sinh năm 1974.Địa chỉ: 607, ấp P, xã Phú C, huyện Đ, tỉnh Đ.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vằng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 25/10/2017; Bản tự khai, lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị Hương M  trình bày:

Chị Mai và anh Lữ Hồng T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2000 tại UBND xã G, huyện T. Cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T thường xuyên uống rượu say xin, đánh đập chị nhiều lần, vợ chồng thường xuyên, cãi vả, xúc phạm lẫn nhau nên năm 2004 vợ chồng sống ly thân cho đến nay không còn liên lạc gì với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn đoàn tụ nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T.

- Về con chung: không có con chung.

- Về tài sản chung: không có tài sản chung.

- Về nợ chung: không có nợ chung.

* Tại biênbản lấy lời khai ngày 02/02/2018 bị đơn anh Lữ Hồng T trình bày:

Anh thừa nhận thời gian chung sống, những mâu thuẫn vợ chồng như nguyên đơn trình bày là đúng, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị đã bỏ đi Sài Gòn làm ăn và sống ly thân từ năm 2005 đến nay không còn liên lạc gì với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị M. Vì gia đình công giáo nên không thể đến Tòa án làm việc cũng như tham gia xét xử nên đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chị M, anh không thắc mắc khiếu nại gì sau này.

- Về con chung: không có con chung.

- Về tài sản chung: không có tài sản chung.

- Về nợ chung: không có nợ chung.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn đã xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung là đúng quy định.

Về nội dung:  Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và do tòa án thu thập thì mâu thuẫn giữa chi M và anh T là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

(1) Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục, tống đạt hợp lệ cho các bên đương sự, các đương sự không thắc mắc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng Thẩm phán giải quyết vụ án nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng đều hợp pháp. Về vắng mặt của bị đơn đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

(2) Về nội dung:

Tại phiên tòa, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung, yêu cầu ghì thêm.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thấy rằng, thực tế cuộc sống chung giữa nguyên đơn và bị đơn có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả. vợ chồng sống ly thân từ năm 2004 đến nay nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn. Bị đơn thừa nhận mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn hành phúc như nguyên đơn đã khai là đúng. Căn cứkhoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tung dân sự đây là những tình tiết được xem là có thật  và xác định tình trạng hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: vợ chồng không có con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự khai không có nên không xem xét.

Về nợ chung: Các đương sự tự khai không có nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; các Điều 35, 227, 235, 266 - Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 56 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chịNguyễn Thị Hương M, chị Mai được ly hôn với anh Lữ Hồng T.

2. Về án phí: Chị Mai  phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp sang án phí theo biên lai thu tiền số 004627 ngày 05/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Q, chị M đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt đươc tính từ ngày nhận được bản án hoặc tòa án niêm yết theo quy định.


51
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2018/HNGĐ-ST ngày 28/03/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:20/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Định Quán - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về