Bản án .../2017/HNGĐ-ST ngày 18/09/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN .../2017/HNGĐ-ST NGÀY 18/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Huyện Yên Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:209/2017/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2017 về "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2017/QĐXX-ST ngày 06 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự :

1.Nguyên đơn:  Chị Cao Thị G – sinh năm 1992.

Địa chỉ: xóm P, Xã V, huyện Yên Thành, Nghệ An.(có mặt)

2.Bị đơn:  Anh Trần Hữu P – sinh năm 1987.

Địa chỉ: xóm P, Xã V, huyện Yên Thành, Nghệ An.(vắng mặt lần 2 không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 19/7/2017 và tại bản tự khai đề ngày 01/8/2017, nguyên đơn chị Cao Thị G trình bày: Chị và anh Trần Hữu P kết hôn vào ngày 15/7/2014, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc hay lừa dối, có đăng ký tại UBND xã Xã V, huyện Yên Thành, Nghệ An. Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh pc được gần 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu: do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, thiếu tôn trọng lẫn nhau, anh P thường xuyên rượu chè, đánh đập và xúc phạm chị và gia đình chị. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình cùng chính quyền hòa giải nhiều lần nhưng không mạng lại kết quả. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ được nữa nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.

Về con chung: Chị và anh P có 01 con chung là Trần Cao Hoàng D, sinh ngày 24/02/2014. Ly hôn, chị G có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung trưởng thành và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Hữu P không chịu hợp tác để  giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh P vẫn không chấp hành đến Tòa để làm việc. Vì vậy Tòa án không thể lấy lời khai của anh P. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn cũng như việc Tòa án đã về trực tiếp làm việc tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn cơ bản như chị G trình bày ở trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Đối với anh P đã được Tòa án tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng về việc vắng mặt. Đây là phiên tòa mở lần thứ 2 nhưng anh P vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ vào điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh P.

Xét hôn nhân giữa chị G và anh P là hợp pháp, tuân thủ các quy định của pháp luật. Song qua xem xét thực tế thì thấy rằng cuộc sống chung của vợ chồng không được hạnh pc, tuy thời gian gian kết hôn còn ngắn nhưng mâu thuẫn liên tục xảy ra và đã thực sự căng thẳng, trầm trọng, hai bên đã sống ly thân  gần 2 năm nay, không còn quan tâm, tình cảm gì với nhau nữa, khả năng để hàn gắn đoàn tụ là không thể. Xét đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị G yêu cầu ly hôn anh P là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Về con chung: Chị G, anh P có 01 con chung là cháu Trần Cao Hoàng D, sinh ngày 24/02/2014. Hiện tại con đang ở với chị G. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị G đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi con. Hơn nữa, cháu Dũng mới hơn 3 năm tuổi. Vì thế, cần tiếp tục giao chị G trực tiếp nuôi con chung là phù hợp, đúng quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh P vì hiện tại chị G không yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Chị G phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên Tòa đại diện viện kiểm sát có ý kiến và thống nhất: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và Thư ký cụ thể như sau: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện các quy định tại điều 203 BLTTDS năm 2015. Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp. Việc chấp hành theo pháp luật tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn đã tiến hành phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, lấy lời khai của các đương sự và việc làm rõ các tình tiết vụ án đúng quy định. Tại phiên Tòa Thẩm phán, HĐXX và Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng giải quyết vụ án.

Với các tài liệu do đương sự cung cấp và thẩm phán thu thập có tại hồ sơ vụ án đủ cơ sở giải quyết vụ án. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 điều 28, điều 227 BLTTDS; các điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhận gia đình.

Xử  Cho chị Cao Thị G được ly hôn anh Trần Hữu P.

Về con chung: Giao cho chị G trực tiếp nuôi con chung là cháu Trần Cao Hoàng Dũng, sinh ngày 24/02/2014 cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh P.

Anh P có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Buộc chị Cao Thị G phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, án phí của chị G được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện huyện Yên Thành theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006575 ngày 20/7/2017. Chị G đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, chị G có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh P vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


115
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án .../2017/HNGĐ-ST ngày 18/09/2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:.../2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về