Bản án 19/2021/HNGĐ-ST ngày 13/09/2021 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 19/2021/HNGĐ-ST NGÀY 13/09/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 13 tháng 9 năm 2021, Toà án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 169/2021/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2021, thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 28/TB-TA ngày 30 tháng 7 năm 2021, quyết định hoãn phiên tòa số 10/QĐST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu V, sinh năm 1992 (có mặt) Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 2 ấp 17, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước Nơi cư trú: Tổ 1 ấp TH, xã TL, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước

- Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1993 (vắng mặt) Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 2 ấp 17, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 4 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Thu V trình bày:

Chị và anh Trần Văn D sau thời gian tìm hiểu, đã tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã TL, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật. Việc kết hôn là tự nguyện, không bị ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được hơn một năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh Trần Văn D không liên lạc nói chuyện, không quan tâm đến gia đình. Chị thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn D.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung tên Trần Ngọc Bảo V, sinh ngày 03/01/2020. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh Trần Văn D cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

* Đối với anh Trần Văn D: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật nhưng anh Trần Văn D không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Thu V. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ hai lần thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Trần Văn D vẫn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ ý kiến trình bày và kết quả tranh luận tại phiên tòa và thông qua nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Thu V, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình do chị Trần Thị Thu V khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn D.

Anh Trần Văn D hiện cư trú tại địa chỉ tổ 4 ấp 17, xã TP, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

Tại phiên tòa vắng mặt anh Trần Văn D, anh Trần Văn D đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật.

Về sự tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước: Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long không tham gia phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 232 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án không có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu V và anh Trần Văn D đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã TL, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân của chị Trần Thị Thu V và anh Trần Văn D là hợp pháp.

Chị Trần Thị Thu V thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu được ly hôn anh Trần Văn D. Bà Nguyễn Thị Lệ Th (mẹ ruột chị Thu V) tự khai: Cháu Thu V kết hôn với anh Trần Văn D vào năm 2018 và sinh sống cùng gia đình chồng tại ấp 17, xã TP, thị xã Bình Long. Đến khi cháu Thu V sinh bé Bảo V vào tháng 01 năm 2020 có ở nhà anh Trần Văn D được khoảng 1 tháng thì về sinh sống tại nhà bà ở tổ 1 ấp TH, xã TL. Anh Trần Văn D có qua thăm vợ, con được 1-2 lần và từ đó đến nay không còn qua thăm cháu Thu V và con nữa. Tại phiên tòa, chị Thu V trình bày đã không còn chung sống với anh Trần Văn D từ tháng 02 năm 2020 cho đến nay. Anh Trần Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để cung cấp lời khai, hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của chị Trần Thị Thu V, bà Nguyễn Thị Lệ Thu và xác nhận chính quyền địa phương nơi cư trú của anh Trần Văn D làm cơ sở để giải quyết vụ án. Xét thấy, hôn nhân của chị Trần Thị Thu V và anh Trần Văn D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Thu V.

[3]. Về con chung: Chị Trần Thị Thu V yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn. Hiện nay cháu Trần Ngọc Bảo V đang sinh sống với chị Thu V, anh Trần Văn D không có ý kiến về yêu cầu nuôi con sau khi ly hôn. Do đó để ổn định tâm lý cho con, cần giao con chung cho chị Trần Thị Thu V trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật là con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nên yêu cầu của chị Trần Thị Thu V được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về cấp dưỡng nuôi con, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Trần Thị Thu V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 232, Điều 233, Điều 228, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình.

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu V được ly hôn với anh Trần Văn D.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc Bảo V, sinh ngày 03/01/2020 cho chị Trần Thị Thu V trực tiếp nuôi sau khi ly hôn, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

- Về án phí: Chị Trần Thị Thu V phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001829, quyển số 0037 ngày 26 tháng 4 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương và nơi cư trú

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

51
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2021/HNGĐ-ST ngày 13/09/2021 về ly hôn

Số hiệu:19/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Bình Long - Bình Phước
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/09/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về