Bản án 19/2019/HSST ngày 25/03/2019 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 19/2019/HSST NGÀY 25/03/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong ngày 25 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/HSST, ngày 15 tháng 02 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐ XXST-HS ngày 13/3/2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Văn T (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 15/4/1979, tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm 4, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Bùi Văn S - Con bà: Nguyễn Thị T; Anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(Có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Nguyễn Hữu M (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; sinh ngày 18/10/1988, tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm 10, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Hữu T(đã chết) - Con bà: Nguyễn Thị N. Anh, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/11/2018 đến 14/11/2018. Bị cáo tại ngoại tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(Có mặt tại phiên tòa)

3. Họ và tên: Thái Bá T (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 19/11/1984 tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm 9, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Thái Bá C - Con bà: Hoàng Thị M; Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1985; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/11/2018 đến 11/11/2018. Bị cáo tại ngoại tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(Có mặt tại phiên tòa)

4. Họ và tên: Nguyễn Ích T (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/7/1973 tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm 4, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Nguyễn Ích L(đã chết) - Con bà Bùi Thị B; Anh, chị, em ruột: Có 14 người, bị cáo là con thứ 12 trong gia đình; Vợ: Bùi Thị T, sinh năm 1980; Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo tại ngoại tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(Có mặt tại phiên tòa)

5. Họ và tên: Nguyễn Duy H (Tên gọi khác: không),Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/5/1983 tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm 10, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Duy H - Con bà: Đặng Thị H; Anh, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Ngô Thị P, sinh năm1990; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo tại ngoại tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(Có mặt tại phiên tòa)

6. Họ và tên: Nguyễn Phúc (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/11/1991 tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHK thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm 5, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Phúc H - Con bà: Hồ Thị N; Anh, chị, em ruột: có 05 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Vợ: Trần Thị L, sinh năm 1991; Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ, tạm giam: không. Bị cáo tại ngoại tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.(Có mặt tại phiên tòa)

- Nhân chứng:

+/Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1981.(Vắng mặt)

Trú tại: xóm 5, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/Anh Đặng Quang V, sinh năm 1994.(Vắng mặt)

Trú tại: xóm 10, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/ Anh Bùi Văn H, sinh năm 1977.(Vắng mặt)

Trú tại: xóm 4, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/Anh Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1990.(Vắng mặt)

Trú tại: xóm 5, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/Anh Nguyễn Duy L,sinh năm 1988.(Vắng mặt)

Trú tại xóm 10, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/Anh Bùi Văn H,sinh năm 1970.(Vắng mặt)

Trú tại xóm 4, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990.(Vắng mặt)

Trú tại xóm 9, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

+/Anh Bùi Văn H, sinh năm 1990.(Vắng mặt)

Trú tại xóm 4, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 08/11/2018 các đối tượng Ngô Văn Q, Thái Bá T, Nguyễn Hữu V, Đặng Quang V đến nhà của anh Bùi Văn T tại xóm 4, xã V, huyện Y chơi, uống nước với anh Bùi Văn H là người trông hộ nhà cho anh T lúc đi vắng. Khi anh Bùi Văn H rời khỏi nhà đi dự đám cưới thì Ngô Văn Q, Nguyễn Hữu V, Thái Bá T, Đặng Quang V rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài tiến lên miền Nam còn gọi là đánh xiểng, để ăn tiền nhau. Cả nhóm quy định mỗi ván bài người thắng được tiền của 3 người còn lại, mỗi người là 20.000đ(Hai mươi nghìn đồng), bị chặt hai “đỏ” thua thì mất 20.000đ(Hai mươi nghìn đồng), bị chặt hai “đen” thua thì mất 10.000đ(Mười nghìn đồng).

Khoảng 21 giờ 05 phút cùng ngày thì Bùi Văn T, Nguyễn Hữu M cũng đến nhà anh T. Thấy mọi người đánh xiểng Bùi Văn T nói “Dẹp đánh xiểng đi,

đánh xóc đĩa cho vui”. Nghe nói vậy thì Ngô Văn Q, Thái Bá T, Nguyễn Hữu V, Đặng Quang V dừng đánh xiểng. Bùi Văn T lấy bát đĩa, cùng bốn con xúc xắc có sẵn ở trong góc nhà anh T ra để đánh bạc. Bùi Văn T là người trực tiếp cầm cái để xóc đĩa. Hình thức đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thể hiện như sau: Cả nhóm sử dụng 04(bốn) con xúc xắc, được cắt thành hình tròn từ vỏ bao thuốc lá, quy định mặt trong là ngửa, mặt ngoài là sấp. Người cầm cái bỏ 4 con xúc xắc vào đĩa, úp bát lại xóc đi xóc lại nhiều lần, rồi đặt xuống chiếu. Những người tham gia đánh bạc có quyền lựa chọn đặt cửa bên chẵn hay đặt cửa bên lẻ. Phía người cầm cái là cửa chẵn, phía trước mặt của người cầm cái là cửa lẽ. Sau đó người cầm cái mở bát ra bốn sấp hoặc bốn ngửa là bên chẵn ăn tiền, nếu mở bát ra mà ba sấp, một ngửa hoặc ba ngữa một sấp thì bên lẽ ăn tiền. Số tiền thắng thua phụ thuộc vào số tiền đã đặt, đặt bao nhiêu ăn tiền bấy nhiêu hoặc thua bấy nhiêu. Khi người cầm cái mở bát thì biết được thắng thua, người cầm cái lấy số tiền của những nười đặt cửa thua để trả cho những người đặt cửa thắng. Nếu số tiền cửa chẵn và cửa lẽ bằng nhau thì ván bạc đó người cầm cái không được gì, nếu còn dương tiền thì người cầm cái được hưởng, nếu âm thì người cầm cái phải bỏ tiền mình trả cho người thắng. Quá trình đánh thì người cầm cái có quyền điều khiển ván bạc có thể hô “bán” chẵn hoặc “bán” lẻ cho những người có nhu cầu mua chẵn hay mua lẽ. Các đối tượng qui mỗi ván đặt cược từ 50.000đ(Năm mươi nghìn đồng) đến 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng). Ngô Văn Q, Nguyễn Hữu M, Bùi Văn T đánh được một lúc thì Thái Tá T, Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Duy H và Nguyễn Ích T cũng vào tham gia. Khi các đối tượng chuẫn bị đánh xóc đĩa thì Đặng Quang V nhận được điện thoại của người nhà báo tin là “vợ sinh” nên đã đi về nhà. Thấy mọi người đánh xóc đĩa thì Nguyễn Hữu V dùng tờ 100.000đ(Một trăm nghìn đồng) để đặt cược, nhưng bị người cầm cái từ chối Nguyễn Hữu Vinh đã rút tiền lại và ngồi xem. Thấy nhiều người có mặt trong nhà anh T thì Ngô Văn Q đã gọi điện cho anh Nguyễn Ngọc D mang mỳ tôm và cà phê đến bán cho những người ở tại nhà anh T. Khi anh D vừa đi đến sân nhà ông T thì Nguyễn Hữu M hỏi vay lại số tiền 1.000.000đ(Một triệu đồng) mà trước đó M đã đưa cho anh D để ủng hộ đội bóng, nên anh D không hỏi Nguyễn Hữu M vay để làm gì, nên đã đồng ý cho vay. Sau khi vay được tiền Nguyễn Hữu M đã dùng số tiền này vào tham gia đánh bạc.

Sau khi đi dự đám đám cưới về anh Bùi Văn H thấy nhiều người đánh bạc trong nhà anhT nên đã tỏ thái độ không đồng ý, xua đuổi không cho các đối tượng đánh bạc trong nhà anh T, nhưng do uống rượu nhiều, say rượu nên anh H đã đi vào giường ngủ.

Các đối tượng đánh đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.300.000đ(Năm triệu, ba trăm nghìn đồng); 02(hai) bộ bài tú lơ khơ 52 quân, gồm 01(một) bộ bài màu xanh, 01(một) bộ bài màu đỏ; 01(một) bát sứ màu trắng; 04(bốn) con xúc xắc hình tròn(quân vị). Thu giữ trên người Nguyễn Hữu M số tiền 9.055.000đ(Chín triệu không trăm năm mươi lăm nghìn đồng), thu trên người Ngô Văn Q số tiền 2.200.000đ

(Hai triệu hai trăm nghìn đồng), thu trên người Nguyễn Hữu V số tiền 720.000đ(Bảy trăm hai mươi nghìn đồng), thu trên người Thái Bá T số tiền 130.000đ(Một trăm ba mươi nghìn đồng). Lợi dụng sơ hở Bùi Văn T, Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Duy H, Nguyễn Ích T đã bỏ trốn, nhưng sau đó đã đến cơ quan điều tra để đầu thú. Tại cơ quan điều tra, các đối tượng đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra đã xác định số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

- Nguyễn Hữu V khi đi mang theo số tiền 720.000đ(Bảy trăm hai mươi nghìn đồng), sử dụng số tiền 80.000đ(Tám mươi nghìn đồng) để đánh bạc bằng hình thức đánh bài tiến lên(đánh xiểng), quá trình đanh xiểng không thắng, không thua; bị thu giữ số tiền 720.000đ(Bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 640.000đ(sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) cho Nguyễn Hữu V.

- Đặng Quang V khi đi mang theo số tiền 100.000đ(Một trăm nghìn đồng) để đánh bạc bằng hình thức đánh bài tiến lên(đánh xiểng), quá trình đánh thắng 10.000đ(Mười nghìn đồng). Khi chuyển sang đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa thì Đặng Quang V không tham gia đánh, mà đi về. Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền này để xử lý hành chính.

- Ngô Văn Q mang theo số tiền 2.700.000đ(Hai triệu bảy trăm nghìn đồng), lúc đầu sử dụng số tiền 400.000đ(Bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc bằng hình thức đánh bài tiến lên(đánh xiểng), quá trình đánh Q không thắng, không thua. Lúc chuyển sang đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, Q sử dụng toàn bộ số tiền 2.700.000đ(Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, Q có cho Nguyễn Hữu M vay 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), khi bị bắt quả tang, không rõ thắng thua, thu giữ trên người số tiền 2.200.000đ(Hai triệu hai trăm nghìn đồng).

- Thái Bá T khi đi mang theo số tiền 940.000đ(Chín trăm bốn mươi nghìn đồng), sử dụng số tiền 440.000đ(Bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) để đánh bạc bằng hình thức đánh bài tiến lên (đánh xiểng), bị thua 10.000đ(mười nghìn đồng). Lúc chuyển sang đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, T sử dụng số tiền 930.000đ(Chín trăm ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc, khi bị bắt quả tang T đang thua số tiền 800.000đ(Tám trăm nghìn đồng), thu giữ trên người số tiền 130.000đ(Một trăm ba mươi nghìn đồng).

- Nguyễn Hữu M khi đi mang theo số tiền 9.555.000đ(Chín triệu năm trăm năm mười nghìn đồng) để đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Lúc đầu sử dụng số tiền 500.000đ(Năm trăm nghìn) để đánh bạc. Quá trình đánh bạc đã vay của Ngô Văn Q số tiền 500.000đ(Năm trăm ngàn đồng), vay của Nguyễn Ngọc D số tiền 1.000.000đ(Một triệu đồng). Tổng cộng sử dụng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang không rõ thắng thua và số tiền này nằm trong số tiền thu giữ tại chiếu bạc. Số tiền thu giữ trên người Nguyễn Hữu M số tiền 9.055.000đ(Chín triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn đồng) không liên quan đến đánh bạc cơ quan điều tra đã tra lại số tiền này cho Nguyễn Hữu M.

- Bùi Văn T khi đi mang theo số tiền 600.000đ(Sáu trăm nghìn đồng), khi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa đã sử dụng toàn bộ số tiền này dưới chiếu để đánh bạc, khi bị phát hiện bắt quả tang thì không rõ thắng thua, số tiền này nằm trong số tiền thu giữ ở chiếc bạc.

- Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Duy H khi đi, mỗi người mang theo số tiền 600.000đ(Sáu trăm nghìn đồng), khi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa đều sử dụng toàn bộ số tiền này bỏ dưới chiếu để đánh bạc, khi bị phát hiện bắt quả tang thì đã bị thua hết, số tiền này nằm trong số tiền thu giữ ở chiếc bạc.

- Nguyễn Ích T khi đi mang theo số tiền 1.050.000đ(Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), đã sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua 700.000đ(Bảy trăm nghìn đồng), còn lại số tiền 350.000đ(Ba trăm nghìn đồng), khi đến đầu thú, T đã tự nguyện nộp lại số tiền này.

Tổng số tiền mà Ngô Văn Q, Thái Bá T, Nguyễn Hữu V, Đặng Quang Vi sử dụng vào mục đích đánh bạc bằng hình thức đánh bài tiến lên(đánh xiểng) là 1.020.000đ(Một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).

Tổng số tiền mà Ngô Văn Q, Thái Bá T, Nguyễn Hữu M, Bùi Văn T, Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Duy H, Nguyễn Ích T sử dụng vào mục đích đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa là 7.980.000đ(Bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

- Vật chứng vụ án gồm: Số tiền 7.980.000đ (Bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng) mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc được nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành dân sự huyện Yên Thành tại Kho bạc Nhà nước huyện Yên Thành; 02(hai) bộ bài tú lơ khơ 52 quân, gồm 01(một) bộ bài màu xanh, 01(một) bộ bài màu đỏ; 01(một) bát sứ màu trắng; 04(bốn) con xúc xắc hình tròn(quân vị) đang được bảo quản để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-YT, ngày 12 tháng 02 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố Bùi Văn T, Nguyễn Duy H, Thái Bá T, Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Ích T, Nguyễn Hữu M về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Văn T, Nguyễn Duy H, Thái Bá T, Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Ích T, Nguyễn Hữu M. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý đối với các bị cáo như sau :

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.Xử phạt Bùi Văn Tuyến, Nguyễn Hữu M mỗi bị cáo từ 08 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 16 tháng đến 18 tháng.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Thái Bá T, Nguyễn Ích T mỗi bị cáo từ 07 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, thử thách từ 14 tháng đến 16 tháng.

Áp dụng điểm khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Duy H, Nguyễn Phúc Đ từ 06 tháng đến 7 tháng tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, thử thách từ 12 tháng đến 14 tháng.

Do điều kiện kinh tế của các bị cáo khó khăn, thu nhập thấp, nên đề nghị không xử phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: +/ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 7.980.000đ (Bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng) các bị cáo sử dụng để đánh bạc.

- Tịch thu tiêu hủy 02(hai) bộ bài tú lơ khơ 52 quân, gồm 01(một) bộ bài màu xanh, 01(một) bộ bài màu đỏ; 01(một) bát sứ màu trắng; 04(bốn) con xúc xắc hình tròn(quân vị).

- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ buộc tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa công khai các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở lời khai nhận của các bị cáo, lời khai của những người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ được là hoàn toàn phù hợp với nhau. Cơ quan điều tra, điều tra viên, kiểm sát viên đã tiến hành tố tụng điều tra như lập biên bản phạm tội quả tang; thu giữ vật chứng; lấy lời khai, hỏi cung bị can; điều tra xác minh, ra các quyết định về tố tụng, điều tra theo đúng các quy định của pháp luật. Hành vi của Bùi Văn T, Nguyễn Duy H, Thái Bá T, Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Ích T, Nguyễn Hữu M phạm tội “Đánh bạc” theo quy đinh tại Điều 321 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, tổng số tiền chứng minh các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 7.980.000đ(Bảy triệu,chín trăm tám mươi nghìn đồng). Nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng mức.

[2] Đánh giá tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo thấy rằng:

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đánh bạc được thua bằng tiền của các bị cáo bị nhà nước nghiêm cấm, hành vi đó đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất ổn định xã hội mà còn là hệ lụy của các tệ nạn và tội phạm khác. Chính vì vậy phải xử lý các bị cáo mức án thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội để có tác dụng giáo dục riêng và ngăn ngừa chung.

- Đối với với hai bị cáo Bùi Văn T và Nguyễn Hữu M, tham gia đánh bạc rất tích cực, bị cáo T là người khởi xướng, cầm cái, dùng số tiền 600.000 đồng để đánh bạc. Bị cáo Nguyễn Hữu M, sử dụng số tiền 2 triệu đồng để đánh bạc, số tiền nhiều thứ hai của vụ án.Với các bị cáo, cần nghiêm khắc lên án, đáng lẽ phải xử cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian.Tuy nhiên xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, lý lích trong sáng rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi. Bố mẹ của bị cáo Bùi Văn T là người có công với nước được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, là thương binh hạng 4, bị cáo đã đến công an đầu thú. Bố bị cáo Nguyễn Hữu M là người có công, được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba. Do các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51, nên cần khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, chưa cần thiết phải cách ly đối với bị cáo, mà xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng có đủ tác dụng giáo dục giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Đối với Thái Bá T bị cáo đã tham gia đánh bạc bằng hai hình thức đánh xiểng và đánh xóc đĩa. Tuy số tiền sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thực xóc đĩa không nhiều, nhưng bị cáo tham gia đánh bạc cũng rất tích cực. Nên cũng cần phải xử nghiêm với hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục, phòng ngừa. Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình nhân thân bị cáo tốt, lý lích trong sáng rỏ ràng. Nên chưa cần thiết phạt tù giam đối với bị cáo, áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm.

- Đối với 3 bị cáo Nguyễn Ích T, Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Duy H tham gia đáng bạc so với các bị cáo khác thì hành vi của các bị cáo ít nguy hiểm hơn so với ba bị cáo trên, số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc không nhiều. Tuy nhiên cũng phải xử lý nghiêm với hình phạt thương xứng mới có tác dụng giáo dục chung đối với các bị cáo. Nhưng xét thấy tại phiên tòa, quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối lỗi, các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân lí lịch các bị cáo trong sáng rỏ ràng, đã đến cơ quan công an đầu thú. Do đó cần áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ nghiêm.

Tại nhà anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Hữu V, Đặng Quang V có tham gia đánh bạc hình thức đánh xiểng với Thái Bá T, Ngô Văn Q. Nhưng tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc bằng hình thực đánh xiểng chỉ là 1.020.000đ(Một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng), nên cơ quan điều tra đã xử lý hành chính đối với anh Nguyễn Hữu V, Đặng Quang V. Ngô Văn Q tham gia đánh bạc với các đối tượng trên bằng hình thức đánh xiểng và xóc đĩa. Hiện nay Ngô Văn Q đang bỏ trốn, công an đã ra lệnh truy nã, bắt được sẽ xử lý sau.

[3] Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động nông nghiệp, thu nhập thấp, điện kiện hoàn cảnh kinh tế các bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

[4] Vật chứng: Xét số tiền 7.980.000đ(Bảy triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng) thu giữ của các bị cáo và một số đối tượng khác là số tiền dùng vào việc đánh bạc, cần phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước; 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, gồm 01(một) bộ bài màu xanh, 01(một) bộ bài màu đỏ; 01(một) bát sứ màu trắng; 04(bốn) con xúc xắc hình tròn(quân vị) là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy như quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Văn Tu, Nguyễn Duy H, Thái Bá T, Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Ích T, Nguyễn Hữu M phạm tội: “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 08(Tám) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách 16(Mười sáu) tháng. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(Ngày 25/3/2019). Giao bị cáo Bùi Văn T cho UBND xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu M 08(Tám) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách 16(Mười sáu) tháng. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(Ngày 25/3/2019). Giao bị cáo

Nguyễn Hữu M cho UBND xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

3. Xử phạt: Bị cáo Thái Bá T 07(Bảy) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách 14(Mười bốn) tháng. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(Ngày 25/3/2019). Giao bị cáo Thái Bá T cho UBND xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

4. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ích T 07(Sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách 14(Mười bốn) tháng. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(Ngày 25/3/2019). Giao bị cáo Nguyễn Ích T cho UBND xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

5. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phúc Đ 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 25/3/2019). Giao bị cáo Nguyễn Phúc Đ cho UBND xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

6. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy H 06(Sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách 12(Mười hai) tháng. Thời hạn thử thách đối với bị

cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm(Ngày 25/3/2019).Giao bị cáo Nguyễn Duy H cho UBND xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

7.Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 7.980.000đ(Bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng) do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã nộp vào tài khoản số 3949.0104.7746.0000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành(Giấy nộp tiền lập ngày 11/01/2019.)

Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, gồm 01(một) bộ bài màu xanh, 01(một) bộ bài màu đỏ; 01(một) bát sứ màu trắng; 04(bốn) con xúc xắc hình tròn(quân vị). Do cơ quan cảnh sát điều tra công án huyện Yên Thành đã chuyển cho Chi cụ thi hành án dân sự huyện Yên Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/2/2019 và Phiếu nhập kho số: NK029 ngày 14/2/2019.

8. Án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án. Buộc Bùi Văn T, Nguyễn Duy H,Thái Bá T, Nguyễn Phúc Đ, Nguyễn Ích T, Nguyễn Hữu M mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

9. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

114
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2019/HSST ngày 25/03/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:19/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về