Bản án 19/2019/HNGĐ-ST ngày 10/05/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG 

BẢN ÁN 19/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/05/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 10/5/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 413/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/QĐXXST-DS ngày 27/3/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đàm Phương L, sinh năm 1989 (có mặt).

Nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Chị Dương Thị Thu H, sinh năm 1994 (có mặt).

Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/10/2018 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Đàm Phương L trình bày: Tôi kết hôn với chị Dương Thị Thu H ngày18/3/2013, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng hoàn toàn được tự do tìm hiểu thoả thuận và tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Cưới xong chị H về gia đình tôi làm dâu sinh sông va làm ăn. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn xảy ra, đến tháng 4 năm 2018 thì vơ chông bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, quan điêm sông cua môi ngươi khac nhau . Trong cuôc sông hang ngay vơ chông không tim đươc        tiêng noi chung, vợ chồng thường xuyên xay ra xung đột bất đồng, không tôn trọng nhau, không ai chịu nghe lời ai, mỗi người làm một ý, tình cảm vợ chồng dần trở nên lạnh nhat. Do mâu thuẫn vợ chồng nên từ đầu tháng 8 năm 2018 vợ chồng tôi sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng với nhau kể từ đó cho đến nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng tôi đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ và hàn gắn tình cảm vợ chồng được nữa. Vì vậy tôi đề nghị xin được ly hôn chị Dương Thị Thu H.

- Về con chung : Vơ chông tôi co hai con chung la Đ    àm Phương N, sinh ngày 20/9/2013 và Đàm Phương Mai D, sinh ngày 27/6/2015. Hiên nay hai chau vân khoe mạnh, phát triển bình thường v à đang ở với chị H. Nay ly hôn tôi có nguyện vọng xin được nuôi cháu Đàm Phương Mai D. Vê câp dương nuôi con thi tôi không đê nghi Toa án giải quyết.

Hiện  nay  tôi  đang  làm  bộ  phận  hành  chính  văn  phòng  công  ty  SamSung electronics Bắc Ninh, thu nhập của tôi hiện nay bình quân là 11.000.000đ/ 01 tháng. Tôi hoàn toàn có đủ khẳ năng về kinh tế và thời gian để nuôi con. Hiện nay tôi đang ở với bố mẹ đẻ tôi, kinh tế gia đình tôi hiện nay bình thường. Nếu tôi được nuôi cháu D thì tôi cam đoan sẽ nuôi cháu tốt nhất.

- Vê tài sản chung, công nợ, ruộng đất canh tác: Tôi không đề nghị Toà án xem xét giải quyết.

* Bị đơn chị Dương Thị Thu H trình bày: Tôi xác nhận lời khai của anh Đàm Phương L về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Vì vậy anh L xin ly hôn thì tôi hoàn toàn đồng ý ly hôn anh L.

- Về con chung: Vơ chông tôi co hai con chung là Đàm Phương N, sinh ngày 20/9/2013 và Đàm Phương Mai D, sinh ngày 27/6/2015. Hiên hai chau vân khoẻ mạnh, phát triển bình thường và đang ở với tôi. Nay ly hôn tôi nguyện vọng xin được nuôi cả hai con chung. Vê câp dương nuôi con tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.

Hiện nay tôi đang làm công nhân của công ty SamSung Display Bắc Ninh, thu nhập bình quân của tôi một tháng là 10.000.000đ. Tôi hoàn toàn có đủ thời gian và kinh tế để nuôi cả hai con. Hiện nay tôi đang ở với bố mẹ đẻ tôi, kinh tế gia đình bố mẹ tôi khá (bố mẹ tôi làm xưởng nấm). Nếu tôi được nuôi cả hai con thì tôi cam đoan sẽ nuôi hai con tốt nhất.

- Vê công s ức, tài sản chung, công nợ, ruộng đất canh tác: Tôi không đề nghị Toà án xem xét giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay: Anh L, chị H đều có mặt giữ nguyên yêu cầu trên; anh L trình bày thêm: Anh L muốn nuôi một con, nếu được Tòa án giao nuôi cháu D thì là điều anh mong muốn nhất.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của thẩm phán, thư ký, hội thẩm nhân dân, anh L, chị H trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh L và chị H; giao anh L nuôi cháu N, giao chị H nuôi cháu D; về cấp dưỡng nuôi con, công sức và tài sản cả chị H và anh L đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; anh L phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/10/2018 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Đàm Phương L, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Khởi kiện xin ly hôn chị Dương Thị Thu H, sinh năm 1994, nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; đề nghị Tòa án giải quyết về con chung; không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, phạm vi khởi kiện là đề nghị xin được ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

 [2] Nội dung vụ án:

 [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đàm Phương L kết hôn với chị Dương Thị Thu H, ngày 18/3/2013, trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 4/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống và trong công việc làm ăn hàng ngày vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không bảo ban được nhau để cùng làm ăn phát triển kinh tế, xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 8/2018. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cả anh L và chị H đều xin được thuận tình ly hôn. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, thỏa thuận xin được thuận tình ly hôn của anh L và chị H là hoàn toàn tự nguyện không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội cần chấp nhận. Xét là phù hợp Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

 [2.2] Về nuôi con chung: Anh L và chị H sinh được 02 con chung là Đàm Phương N, sinh ngày 20/9/2013 và Đàm Phương Mai D, sinh ngày 27/6/2015. Hiên hai chau đang ở cùng chị H, khoẻ mạnh và phát triển bình thường . Nay ly hôn anh L có nguyện vọng xin được nuôi 1 con và nếu được giao nuôi Đàm Phương Mai D thì càng tốt; chị H có nguyện vọng xin được nuôi cả 2 con. Xét về điều kiện nuôi con thì cả anh L và chị H đều có điều kiện nuôi con như nhau, tuy nhiên vì cháu D còn nhỏ rất cần đến sự chăm sóc của người mẹ hơn, do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các con cần giao anh L nuôi cháu N, giao chị H nuôi cháu D; về cấp dưỡng nuôi con cả chị H và anh L đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết; anh L, chị H được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh L, chị H thực hiện quyền này, Xét là hợp Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.3] Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án chị H đề nghị giải quyết về tài sản sau đó lại rút yêu cầu; tại phiên tòa ngày 22/4/2019 chị H đề nghị giải quyết công sức trong thời gian ở chung, tại phiên tòa hôm nay cả anh L, chị H đều không đề nghị giải quyết về tài sản và công sức. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

 [2.4] Về án phí: Anh Đàm Phương L phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Ghi nhận anh L đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0006811 ngày 03/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 55; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều  27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đàm Phương L và chị Dương Thị Thu H.

2/ Về nuôi con chung: Xử giao anh Đàm Phương L nuôi con chung là Đàm Phương N, sinh ngày 20/9/2013; giao chị Dương Thị Thu H nuôi con chung là Đàm Phương Mai D, sinh ngày 27/6/2015; anh L, chị H được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh L, chị H thực hiện quyền này.

3/ Về án phí: Anh Đàm Phương L phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tiền anh L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0006811 ngày 03/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án xử sơ thẩm công khai./.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2019/HNGĐ-ST ngày 10/05/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:19/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lạng Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về