Bản án 188/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 188/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 185/2019/QĐXX-ST ngày 14 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1994 (có yêu cầu xin vắng mặt) 

Địa chỉ: Ấp LA, xã O, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Đặng Xiếu N, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp ĐN, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện ngày 03/7/2019 chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày:

Chị T và anh N được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới và tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã O, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang vào ngày 13/4/2015. Thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không thể kéo dài nên chị T yêu cầu ly hôn với anh N.

Con chung tên Đặng Thiên K, sinh ngày 20/01/2015 (giới tính nữ). Con chung hiện chị T nuôi dạy nên chị T yêu cầu tiếp tục nuôi dạy. Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp:

[1] Chị Nguyễn Thị Kiều T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là Đặng Xiếu N. Do chị T và anh N chung sống có đăng ký kết theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; anh N có địa chỉ tại ấp ĐN, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tòa án có thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho anh N nhưng anh N không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị T và vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh N nhưng anh N vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị T có yêu cầu xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Đặng Xiếu N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã O, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang vào ngày 13/4/2015. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Tại đơn khởi kiện, chị T yêu cầu ly hôn với anh N. Vì chị T cho rằng thời gian chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không thể kéo dài. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh N vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Đặng Xiếu N được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Thời gian chung sống, chị T và anh N có 01 con chung tên Đặng Thiên K, sinh ngày 20/01/2015. Xét thấy, chị T yêu cầu nuôi dạy con chung là có căn cứ. Bởi vì, cháu K hiện chị T nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Do đó, cần tiếp tục giao con chung cho chị T nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung và không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều T phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 232 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Đặng Xiếu N.

2.Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều T và anh Đặng Xiếu N được ly hôn.

3.Về con chung: Giao con chung tên Đặng Thiên K, sinh ngày 20/01/2015 (giới tính nữ) cho chị Nguyễn Thị Kiều T tiếp tục nuôi dạy. Anh Đặng Xiếu N không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh N không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều T phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 29 tháng 7 năm 2019 chị T có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010577 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

6.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bản án này là sơ thẩm, báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 188/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về ly hôn

Số hiệu:188/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về