Bản án 188/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 188/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 09 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 564/2018/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trinh Thị Minh Ch, sinh năm 1976.

2. Bị đơn: Ông Phạm Hồng K, sinh năm 1971.

Cùng địa chỉ: 1622/1, tổ 1, ấp Long Phú, xã Phước Th, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (bà Ch có mặt, ông K xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 18/7/2018, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trinh Thị Minh Ch trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Hồng K xây dựng gia đình vào năm 2003, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Th, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, nguyên nhân do không phù hợp về tính cách, quan điểm sống không phù hợp nên hai người hay cãi nhau. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K.

Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Ngọc Bảo L, sinh ngày 08/4/2005 và Phạm Ngọc Thanh Th, sinh ngày 12/02/2014. Nếu vợ chồng ly hôn, bà xin được nuôi 02 cháu L và Th, bà không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Quá trình tố tụng ông Phạm Hồng K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian và nơi kết hôn đúng như bà Ch trình bày. Sau khi kết hôn cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc nhưng khoảng 02 năm nay vợ chồng thường xuyên cãi nhau do bất đồng quan điểm và cách nuôi dạy con cái. Mặc dù hai người sống chung một nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau. Nay bà Ch xin ly hôn ông không đồng ý vì gia đình ông theo đạo Công giáo.

Về con chung: Có 02 con chung như bà Ch đã trình bày. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn, ông xin được nuôi cháu L và cháu Th, tạm thời ông không yêu cầu bà Ch cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đúng pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Ch.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trinh Thị Minh Ch được ly hôn ông Phạm Hồng K.

Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc Bảo L, sinh ngày 08/4/2005 và Phạm Ngọc Thanh Th, sinh ngày 12/02/2014 cho bà Ch trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, tạm thời ông K không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Bị đơn ông Phạm Hồng K có địa chỉ tại huyện L. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai xét xử là đúng thẩm quyền.Ông Phạm Hồng K có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông K.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trinh Thị Minh Ch và ông Phạm Hồng K đăng ký kết hôn vào ngày 30 tháng 5 năm 2003 tại Ủy ban nhân dân xã Phước Th, huyện L, tỉnh Đồng Nai, trên cơ sở tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà Ch cho rằng bà không còn tình cảm với ông K nên bà xin được ly hôn. Riêng ông K không đồng ý ly hôn vì gia đình ông theo đạo Công giáo.Tòa án đã hòa giải để ông K và bà Ch đoàn tụ nhưng bà Ch cương quyết xin ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Ch và ông K là có thật, bản thân ông K xác định vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc đến nhau, ông K không đồng ý ly hôn vì gia đình ông theo đạo. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà Ch và ông K đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giải quyết cho bà Ch được ly hôn với ông K là phù hợp.

[3] Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Ngọc Bảo L, sinh ngày 08/4/2005 và Phạm Ngọc Thanh Th, sinh ngày 12/02/2014. Nếu vợ chồng ly hôn, bà Ch và ông K đều xin được nuôi 02 cháu L và Th. Nhận thấy, nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con của ông K, bà Ch là hoàn toàn Ch đáng. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải bảo đảm quyền lợi của con. Ông K xin được nuôi dưỡng cháu L và cháu Th, tuy nhiên cháu L có nguyện vọng xin được ở với mẹ, cháu Th còn nhỏ. Mặc khác, bà Ch là giáo viên, nếu giao con cho bà Ch nuôi dưỡng các cháu sẽ phát triển hoàn thiện tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy, giao cháu L và cháu Th cho bà Ch nuôi dưỡng, tạm thời ông K không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.

[4] Tài sản chung và nợ chung: Theo các đương sự trình bày tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm bà Ch phải chịu là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều Điêu 227, 228, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Điều 56, 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trinh Thị Minh Ch.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trinh Thị Minh Ch được ly hôn ông Phạm Hồng K.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc Bảo L, sinh ngày 08/4/2005 và Phạm Ngọc Thanh Th, sinh ngày 12/02/2014 cho bà Ch trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, tạm thời ông K không cấp dưỡng nuôi con. Ông K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra để giải quyết.

4. Án phí dân sự sơ thẩm bà Trinh Thị Minh Ch phải chịu là 300.000đ được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Ch đã nộp tại biên lai số 006562 ngày 31/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

5. Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 188/2018/HNGĐ-ST ngày 09/11/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:188/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Thành - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về