Bản án 184/2020/DS-PT ngày 10/07/2020 về tranh chấp dân sự ranh giới quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 184/2020/DS-PT NGÀY 10/07/2020 VỀ TRANH CHẤP DÂN SỰ RANH GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong các ngày 28/5 và 10/7/2020 tại Trụ sở tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2020/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2020 về “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2019/DS-ST ngày 30/10/2019 của Toà án nhân dân huyện Lai Vung bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 50/2020/QĐ-PT ngày 24 tháng 2 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1975.

Đa chỉ: B, Khóm A, thị trấn A, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn Lê Ngọc T là: Bà Lê Thị N, sinh năm 1960.

Địa chỉ: A đường A, Khóm A, Phường 2, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Lê Ngọc T, sinh năm 1971.

Đa chỉ: A, khóm A, thị trấn A, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Mai Kim H, sinh năm 1965.

Lê Duy K, sinh năm 1996.

Cùng địa chỉ: A, khóm A, thị trấn A, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Trương Thị Thùy D, sinh năm 1972.

Đa chỉ: A, ấp A, xã A, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền cho Trương Thị Thùy D là: Bà Lê Thị N, sinh năm 1960.

Địa chỉ: A đường A, Khóm A, Phường 2, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Người kháng cáo: Ông Lê Ngọc T và bà Lê Thị Thùy D là nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan của vụ án.

(Ông T, bà N có mặt; bà H, anh K vắng mặt tại phiên tòa )

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2018, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn ông Lê Ngọc T là bà Lê Thị N trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Lê Ngọc C (cha ruột ông T, T) thửa 81, tờ bản đồ số 41 tách ra cho ông T, T năm 2011. Khi cấp giấy cho ông T, T ông C có đứng ra xác định ranh tứ cận với các bên. Sau đó ông T và ông T sử dụng và ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng vào ngày 09/8/2011, đất thuộc thửa 278, tờ bản đồ số 41, đất ở đô thị, diện tích 831m2 giáp ranh với thửa đất của ông T là thửa đất 279, tờ bản đồ số 41 diện tích 491m2 ca ông Lê Ngọc T, đất tọa lạc tại thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Vào tháng 5/2018 ông T cất nhà và xây dựng sai vị trí lấn sang thửa đất của ông T, ông T nhiều lần yêu cầu ông T chỉnh lại theo đúng diện tích trong giấy của ông T thì ông T không đồng ý. Vào ngày 05/7/2018 ông T nộp đơn tại UBND thị trấn Lai Vung yêu cầu ông T trả lại phần đất đã lấn chiếm qua đất của ông T mà ông T không đồng ý mà tiếp tục xây dựng nhà. Nay ông Lê Ngọc T yêu cầu giải quyết buộc Lê Ngọc T tháo dở di dời phần kiến trúc, hàng rào, nhà trả lại diện tích đã lấn chiếm là 42,9m2 thuộc thửa đất số 278 tờ bản đồ số 41 đứng tên Lê Ngọc T, xác định ranh giữa ông T và ông T là từ mốc M3 đến M5 được thể hiện trên mãnh trích đo địa chính số 08-2019 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lai Vung. Ông T không hỗ trợ tiền di dời.

Ông T không có cắm các trụ đá để xác định ranh đất giữa ông T và ông T mà ông T chỉ cắm và rào hàng rào lưới B40, rào ngang mặt tiền đất của ông T.

Ranh đất trước đây giữa ông T và ông T là con mương lạng, ông T đã bơm khoảng 16 ghe cát. Con mương lạng này đã được san lắp nên hiện trạng con mương tại vị trí nào hiện nay ông T không xác định được, ông T không yêu cầu thẩm định để xác định con mương lạng. Nếu Tòa án chấp nhận cho ông T được sử dụng phần đất tranh chấp thì ông T cũng không yêu cầu chi phí san lắp cát đối với ông T.

Còn ranh giới của ông T và C thì trước đây không có xác định ranh và ranh hiện nay do ông C và ông T xác định bên ông T không ý kiến và cũng không yêu cầu đo đạc đất bên ông C mà yêu cầu Tòa căn cứ vào giấy chứng nhận của ông T được cấp để giải quyết.

Ông T cho rằng trước đây trên phần đất tranh chấp ông T có trồng chuối, nhưng sau đó ông T đã chặt bỏ, việc chặt cây lúc đó ông T không có báo chính quyền địa phương.

Ông T thống nhất với kết quả đo đạc, định giá của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai và Hội đồng định giá huyện Lai Vung ngày 20/02/2019 để làm căn cứ giải quyết vụ án.

- Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn Lê Ngọc T trình bày: Ông T thừa nhận nguồn gốc đất đúng như bên nguyên đơn trình bày. Vào năm 2011 đất được ông C cho anh em T và T. Khi cấp giấy có đo đạc thực tế, các mốc ranh do ông T đứng ra chỉ ranh với các hộ giáp ranh đất. Ông T thống nhất trụ phía sau giữa ông T với T là M3. Khi đo đạc xong thì sau đó ông T có cắm thêm khoảng 4 trụ đá nữa làm ranh đất giữa T và T, các trụ đá này đúng vị trí hàng rào ông T đang xây dựng. Sau đó khoảng hơn 1 tháng khi ông T xây xong phần thô của căn nhà thì ông T bắt đầu nhổ các trụ đá này lên. Ông T không biết lý do vì sao ông T nhổ lên và bắt đầu thưa ông T là lấn ranh. Vụ tranh chấp này giữa ông T và ông T được Ủy ban thị trấn Lai Vung và Ban nhân dân Khóm 2 hòa giải, tại biên bản hòa giải này hai bên cho rằng đất đều thiếu và đi điều chỉnh giấy lại cho đúng nhưng không thống nhất về phần chi phí cấp đổi lại nên không thành. Đến nay ông T kiện ông T ra đến Tòa thì không thể thương lượng được. Ông T xác định không có lấn ranh gì đất của ông T vì theo đo đạc đất của ông T vẫn thiếu không có dư và hiện trạng xây dựng nhà đúng như trước đây ông C cho nên không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn.

Ranh đất giữa ông T và ông C đúng như trước đây khi ông C tách đất cho ông T.

Đi với con mương lạng như ông T trình bày thì con mương này nằm bên đất ông T thì ông T bơm cát, phần của ông T thì ông T bơm cát. Hiện con mương ở vị trí bên đất ông T nhưng do đã san lắp nên ông T không xác định được vị trí con mương, không yêu cầu thẩm định đối với con mương lạng.

Đi với các cây trồng như chuối mà ông T xác định là ông T đốn là không đúng vì các cây chuối này do bên ông T trồng chứ ông T không có trồng.

Ông T thống nhất với kết quả đo đạc và định giá ngày 20/02/2019 để làm căn cứ giải quyết vụ án.

- Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua bà Trương Thị Thùy D là bà Lê Thị N trình bày: Bà D thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của ông T không trình bày hay yêu cầu gì khác.

- Đối người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mai Kim H, Lê Duy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để mở phiên tòa lần thứ hai vào ngày 30/10/2019 nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ý kiến hay phản bác gì đối với nguyên đơn, bị đơn.

- Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người làm chứng Lê Ngọc C khai: Ông C là cha ruột của ông T và T. Năm 2011 ông C tách từ thửa 81, tờ bản đồ số 41 của ông C cho hai con là T thửa 278 và T thửa 279, khi cho đất T và T thì ông C không có nói chiều dài, ngang diện tích là bao nhiêu mà toàn bộ thủ tục đi làm giấy đều do ông T đi và sau đó ông C ra chính quyền để ký giấy tặng cho. Khi cho đất ông C lấy vị trí là gốc chuồng heo ngay vị trí M6 ranh giữa ông T và ông C qua đất ông Nên để T và T chia đôi ra. Còn đầu ngoài lộ thì ông C cắm một cái cây cũng ngay vị trí hàng rào ông T. Ngày Đoàn đo đạc xuống đo để cấp giấy cho T và T ông C có chứng kiến và chỉ ranh với các hộ giáp ranh. Các trụ M3, M2 đúng như hiện trạng còn trụ phía trước ranh giữa ông T với ông Nên thì ông C nhớ là ngay vị tri trụ điện. Ngoài ra sau đó ông T có cắm thêm vài cây trụ đá để xác định ranh giữa T và T nhưng sau đó ông T cũng đã nhổ các trụ đá này lên, ông C không biết lý do ông T nhổ lên. Các trụ đá ông T cắm làm ranh với ông T ngay vị trí hàng rào ông T đang xây dựng hiện nay. Nên không có việc ông T lấn ranh đất của ông T.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/10/2019 người làm chứng Lê Văn Nê khai: Ông Nê là chú họ của ông T và T. Trước khi ông T xây dựng nhà ông Nê, ông T, T có thống nhất cắm trụ ranh phía sau ngay vị trí M3 và ngoài ra có ông Thảo có cắm 01 trụ đá phía sau giáp với đất ông Nên với T tại vị trí M2. Ông Nê chỉ chứng kiến cắm 02 trụ đá như trên, khi cắm xong ông Nê ký tên rồi về. Ông Nê không có chứng kiến cắm ranh gì thêm của các bên. Ông Nê yêu cầu Tòa án không triệu tập ông Nê đến Tòa với tư cách là người làm chứng và cũng không tham gia đối chất, lý do ông Nê bận công việc không có thời gian đến Tòa.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/10/2019 người làm chứng Lê Thanh Thảo khai: Ông Thảo là anh em họ hàng xa với ông T và T. Ông Thảo là con ông Nên là người giáp ranh đất với ông T. Trước khi ông T cất nhà, ông Thảo có chứng kiến việc cắm trụ ranh của ông T ông T và ông Nê tại vị trí M3. Ngoài ra, ông Thảo có khiêng tiếp khoảng 4 đến 5 trụ đá của ông T và cắm tạm các trụ đá này từ vị trí M3 trở ra. Còn các trụ đá này có đúng vị trí hiện trạng hàng rào ông T hay không ông Thảo không biết. Ngoài ra ông Thảo không có tham gia cắm các trụ đá nào khác. Ông Thảo yêu cầu Tòa án không triệu tập ông Thảo đến Tòa để làm chứng và từ chối tham gia đối chất.

* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số 87/2019/DS-ST ngày 30/10/2019, Toà án nhân dân huyện Lai Vung đã tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Ngọc T về việc yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Lê Ngọc T và ông Lê Ngọc T.

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 278, tờ bản đồ số 41 của ông Lê Ngọc T và thửa 279, tờ bản đồ số 41 của Lê ngọc T là đường thẳng nối từ các mốc M3 đến mốc M4, đất tọa lạc tại thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian, tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất thì phải di dời theo quy định của pháp luật (kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/02/2019; Mãnh trích đo địa chính số 08-2019, ngày 20/02/2019 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).

Ông Lê Ngọc T được tiếp tục sử dụng diện tích 42,9m2 thể hiện tại các mốc M3 – M4 – M5 về M3 theo Mảnh trích đo địa chính số 08-2019, ngày 20/02/2019 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ông Lê Ngọc T, ông Lê Ngọc T được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

2. Về án phí và chi phí:

+ Ông Lê Ngọc T phải chịu chi phí đo đạc, định giá là 6.333.000 đồng (ông Lê Ngọc T đã nộp và chi xong).

+ Ông Lê Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Được khấu trừ 1.000.000 đồng theo biên lai đã tạm ứng án phí ngày 24/12/2018 của Chi cục Thi hành dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Ông Lê Ngọc T được nhận lại 700.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/11/2019, ông Lê Ngọc T và bà Trương Thị Thùy D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm số 87/2019/ST-DS ngày 30/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị N là người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Ngọc T và bà Trương Thị Thùy D vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của Ông T là không có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông T và bà D; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét kháng cáo của ông Lê Ngọc T và bà Trương Thị Thùy D, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bên đều thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp tại 278, 279 cùng tờ bản đồ số 41 có nguồn gốc từ thửa 81, tờ bản đồ số 41 của ông Lê Ngọc C là cha của ông Lê Ngọc T và Lê Ngọc T cho vào năm 2011.

Phần đất tranh chấp giữa ông Lê Ngọc T với ông Lê Ngọc T là thửa đất 278 tờ bản đồ số 41 do ông Lê Ngọc T được cấp giấy chứng nhận QSDĐ vào năm 2011. Liền kề với thửa 278, tờ bản đồ số 41 là thửa đất 279 tờ bản đồ số 41 do ông Lê Ngọc T đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ. Diện tích tranh chấp theo đo đạc thực tế ngày 20/02/2019 là 42,9m2 được thể hiện từ mốc M3 – M4 – M5 về M3.

Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 278 tờ bản đồ số 41 và thửa 279 tờ bản đồ số 41, là từ mốc M3 đến M5, buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn diện tích tranh chấp theo đo đạc thực tế là 42,9m2, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Xét về quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Đối với thửa đất số 278 tờ bản đồ số 41 đứng tên ông Lê Ngọc T đã được Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung cấp giấy chứng nhận năm 2011, diện tích 831m2; thửa 279, tờ bản đồ số 41 diện tích 491m2 được Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2011 cho ông Lê Ngọc T.

Trong hồ sơ cấp đất cho ông T và ông T gồm có các bản trích lục bản đồ địa chính, sơ đồ thửa đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sơ đồ thửa đất thể hiện kích thước chiều dài ngang, diện tích của các thửa đất đúng như giấy chứng nhận được cấp.

Qua kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đối C với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trích lục bản đồ địa chính của các bên được cấp, đối với diện tích của ông Lê Ngọc T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 278 tờ bản đồ số 41 có diện tích 831m2, qua đo đạc thực tế 736,6m2 (chưa tính phần diện tích tranh chấp). Còn thửa 279, tờ bản đồ số 41 của Lê Ngọc T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 491m2 đo đạc thực tế là 441.2m2 (chưa cộng phần tranh chấp ). Qua đo đạc thực tế ông T đang sử dụng tính luôn cả phần đất đang tranh chấp thì có diện tích là 779,5m2 chênh lệch thiếu là 51,5m2 ), thửa đất ông T là 441,2m2, cộng phần tranh chấp là 484,1m2 chênh lệch thiếu là 6,9m2. Xét chung cả hai thửa đất của ông T và ông T đều thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.

Do trong giấy chứng nhận của ông T, ông T có thể hiện chiều dài cạnh giáp thửa đất ông T và T là 40.58m, chiều ngang giáp lộ là 15,77m, chiều ngang đầu trong là 27m, chiều dài giáp thửa 90 của ông Nên là 43,24m. Theo đo đạc thực tế thửa đất ông T có chiều dài giáp ông T là 41,43 (chênh lệch thừa là 0,85m), chiều dài giáp thửa 90 của ông Nên là 46,39m (chênh lệch thừa là 3,15m), chiều ngang giáp thửa 73 là 26,95m (chênh lệch thiếu là 0,05m), chiều ngang đầu ngoài giáp lộ là 12,86m (cộng luôn phần tranh chấp, chênh lệch thiếu 2,91m). So sánh giữa chiều dài, chiều ngang được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đo đạc thực tế thì xác định hai cạnh dài giáp ông T và giáp ông Nên thì dư còn chiều ngang đầu trong và đầu ngoài thì lại thiếu. Còn các cạnh của thửa đất ông T tương đối phù hợp và chiều dài cạnh giáp lộ thì thiếu 0,02m.

Do thửa đất của ông T và ông T được tách ra từ thửa 81 của ông C. Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ để xác định trích lục bản đồ đối với thửa đất nhưng Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lai Vung có công văn số 554/CNVPĐKĐĐ, ngày 23/8/2019 trả lời thửa đất số 81, tờ bản đồ số 41 đã thực hiện biến động tách thửa thành các thửa đất số 278, 279, 280. Do thửa đất 81 đã chỉnh lý xóa bỏ theo quy định. Vì vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Lai Vung không trích lục được thửa đất số 81, tờ bản đồ số 41.

Tại Công văn số 92/UBND-TNMT, ngày 09/8/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp trả lời như sau: Thửa 278, 279 được Lê Ngọc T và Lê Ngọc T nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ ông Lê Ngọc C năm 2011. Thửa 278 cấp 04 lần: Lần đầu cấp cho hộ Lê Ngọc C thửa 1092, 1126, lần 2 cấp cho hộ ông Lê Ngọc C là do ông C cấp đổi sang bản đồ địa chính chính quy thành thửa 81, tờ bản đồ số 41, lần 3 cấp cho ông C do ông C tách thửa 81 thành thửa 278, 279, 280, lần 4 cấp cho cá nhân ông Lê Ngọc T nhận tặng cho từ ông C.

Tha 81, tờ bản đồ số 41 khi tách thành 3 thửa 278, 279, 280. Trong đó thửa 278, 279 có đo đạc thực tế kích thước chiều ngang, chiều dài của 02 thửa đất, còn thửa 280 không có đo thực tế. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 278, 279, 280 thể hiện cấp đất đến mí lộ nông thôn. Hiện trạng lộ nông thôn thực tế hiện đã lót đan, vì vậy kích thước chiều dài, chiều ngang của thửa 278, 279 có thay đổi so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa 278, 279 thiếu là do mở rộng, thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 278, 279 tờ bản đồ số 41 thể hiện lộ đất, thực tế hiện nay lộ đã lót đan và thời điểm thẩm định thực tế (tranh chấp) các bên giáp ranh xác định lại ranh đất nên có thay đổi ranh giới quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ông Lê Ngọc C xác định ranh trước đây ông C cho ông T thì ông C có chứng kiến cấm ranh là trụ M3, trụ M2 và trụ giáp ông Nên đầu ngoài là ngay cột điện. Ông T có cấm 4 trụ đá ngay vị trí hàng rào ông T đang xây dựng để làm ranh đất và hiện nay các trụ này ông T đã nhổ bỏ, lời khai này là phù hợp với lời khai của ông T và phù hợp hiện trạng đang xây dựng còn ông T cho rằng có cắm và dựng lưới B40 nhưng dựng ngoài mặt tiền đất ông T, lời trình bày này không phù hợp với lời khai của ông C và thực tế thì ông T không chứng minh được phần đất đã thiếu của mình là mất do ông T lấn chiếm. Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lê Ngọc C cũng cho rằng việc ông cho đất các con là chia đều nhưng trong quá trình đăng ký kê khai có chênh lệch nhau còn nay T cất nhà thì cũng tại ranh giữa T và T chứ T không có lấn ranh. Do vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Ngọc T về việc xác định ranh giới QSDĐ giữa ông T và ông T là có căn cứ nên chấp nhận.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của ông T và bà Thùy D yêu cầu đưa ông Lê Ngọc C vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Xét thấy tại đơn khởi kiện ngày 04/12/2018 thì ông T không có yêu cầu đưa ông C vào tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay yêu cầu này là chưa có cơ sở nên không chấp nhận.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của các nguyên đơn cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử bác kháng cáo của đại diện hợp pháp của nguyên đơn.

[3] Xét tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề nghị hướng giải quyết là không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Ngọc T và bà Trương Thị Thùy D, giữ nguyên bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

[4] Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên ông T và bà Thùy D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 148 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Ngọc T và bà Lê Thị Thùy D.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 87/2019/DS-ST ngày 30/10/2019, Toà án nhân dân huyện Lai Vung.

1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Ngọc T về việc yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa ông Lê Ngọc T và ông Lê Ngọc T.

Ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 278, tờ bản đồ số 41 của ông Lê Ngọc T và thửa 279, tờ bản đồ số 41 của Lê ngọc T là đường thẳng nối từ các mốc M3 đến mốc M4, đất tọa lạc tại thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian, tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất thì phải di dời theo quy định của pháp luật (kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/02/2019; Mãnh trích đo địa chính số 08-2019, ngày 20/02/2019 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp).

Ông Lê Ngọc T được tiếp tục sử dụng diện tích 42,9m2 thể hiện tại các mốc M3 – M4 – M5 về M3 theo Mảnh trích đo địa chính số 08-2019, ngày 20/02/2019 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

2. Về án phí và chi phí:

+ Ông Lê Ngọc T phải chịu chi phí đo đạc, định giá là 6.333.000 đồng (ông Lê Ngọc T đã nộp và chi xong).

+ Ông Lê Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. nhưng được khấu trừ 1.000.000 đồng theo biên lai đã tạm ứng án phí ngày 24/12/2018 của Chi cục Thi hành dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Ông Lê Ngọc T được nhận lại 700.000 đồng.

3. Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Ngọc T và bà Trương Thị Thùy D mỗi người phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà các đương sự đã nộp theo các biên lai thusố 0001873, 0001874 ngày 06/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung (đã nộp xong).

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


11
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về