Bản án 182/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 182/2020/HNGĐ-ST NGÀY 29/09/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S - sinh năm 1995.

Địa chỉ: xóm 20, xã Nghi Kiều, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thụy B - sinh năm 1989.

Địa chỉ: Xóm 4, xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 04/6/2020, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị S trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn anh Nguyễn Thụy B đăng ký kết hôn ngày 18/02/2016 tại UBND xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống B thường đến cuối năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Nguyên nhân do anh B thường xuyên rượu chè, đánh đập chị B. Do không thể sống chung với nhau nên tháng 7 năm 2018, chị S về nhà bố mẹ đẻ tại xóm 20, xã Nghi Kiều, huyện Nghi Lộc sống với bố mẹ đẻ. Vợ chồng cắt đứt liên lạc cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị S yêu cầu Toà án giải quyết:

- Ly hôn bị đơn anh Nguyễn Thụy B:

- Con chung: Vợ chồng không có con chung.

- Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ tài sản chung: vợ chồng không nợ cá nhân, tổ chức nào và nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Thụy B được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt, do đó Tòa án không thu thập được lời khai của anh B và đã thực hiện việc xác minh tại UBND xã Trù Sơn sự có mặt/vắng mặt tại nơi cư trú của anh B theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương phát biểu ý kiến theo quy định tại điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng:

Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp cũng như thời hạn giải quyết vụ án.

Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.

Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đề nghị áp dụng điều 28, 35, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình: giải quyết cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn với anh Nguyễn Thụy B; không giải quyết tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung; nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng:

Tòa án đã tiến hành Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập bị đơn nhiều lần hợp lệ đến các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt nhưng căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đã xác định được:

Chị Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Thụy B đăng ký kết hôn ngày 18/02/2016 tại UBND xã Trù Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại điều 8, điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân hợp pháp.

Chị S trình bày quá trình chung sống, mặc dù kết hôn với nhau được một thời gian ngắn nhưng vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh B thường xuyên rượu chè và xúc phạm, đánh đập chị S. Do không thể sống chung với nhau được nên tháng 7 năm 2018, vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Mặc dù không thu thập được lời khai của anh B nhưng việc hai vợ chồng đã ly thân một thời gian tương đối dài(Hơn hai năm), không liên lạc với nhau là đã vi phạm nghĩa vụ sống chung, thương yêu, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau theo quy định tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở để khẳng định, hôn nhân giữa chị S và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì thế cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị Nguyễn Thị S ly hôn anh Nguyễn Thụy B.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung: nguyên đơn không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa không có kiến nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử:

- Cho chị Nguyễn Thị S ly hôn anh Nguyễn Thụy B:

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung:

- Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung: không giải quyết.

- Về án phí: chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005439 ngày 04/6/2020 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương phát hành.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 182/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:182/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đô Lương - Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về