Bản án 18/2018/HS-ST ngày 25/01/2018 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 18/2018/HS-ST NGÀY 25/01/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 25 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm theo trình tự thủ tục rút gọn công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2017/HSST ngày 11 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2018/HSST-QĐ ngày 19- 01-2018 đối với bị cáo: 

Trần Thị H, sinh năm 1984 tại phường T, thành phố Hải Dương. Nơi cư trú: Số A, phố Đ, phường T, thành phố Hải Dương. Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh. Giới tính : Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân T, sinh năm 1950 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1953. Có chồng là Nguyễn Xuân Tr, sinh năm 1983 và 02 con; tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2017 đến ngày 22/12/2017. Hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 10 ngày 22/12/2017 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; cư trú tại: xóm 1 Đông Tân, Đông Hưng, Thái Bình. vắng mặt

2. Ông Trần Văn C, sinh năm 1967; cư trú tại: khu 1 phường Nhị Châu, TP Hải Dương. vắng mặt

3. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1970; cư trú tại: khu 1 phường Thanh Bình, TP Hải Dương. vắng mặt

4. Anh Ngô Công H, sinh năm 1977; cư trú tại: số 211c Chương Dương, P. Trần Phú, TP Hải Dương. vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 20-12-2017 Trần Thị H đến quán bia của nhà ông Trần Xuân T ở số 230 Nguyễn Văn Linh, phường T, thành phố Hải Dương xem ai có nhu cầu mua số lô, số đề thì H bán, H không cói cho ông Thức biết việc mình bán số lô, số đề trái phép. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, H đang ngồi ở phòng khách có anh Nguyễn Văn D đến hỏi mua số lô, số đề. H đồng ý và ghi tích kê bán cho anh D các số lô 21 x 5 điểm (mỗi điểm lô tương ứng số tiền 20.000đồng); số đề 59x33.000đồng nhưng khuyến mại cho anh D số tiền 3.000đ để được tính vào tiền trúng thưởng, thực tế D trả H 130.000đ, nhưng anh D mới trả100.000đ còn nợ H 30.000đ; đồng thời H chép lại vào 1 mảnh giấy đưa cho anh D để làm căn cứ thanh toán. Sau khi ghi bán số lô, số đề cho anh D xong thì ông Trần Văn C vào mua, H ghi tích kê bán cho ông C các số lô 34, 43 x 50 điểm; 73, 37 x 25 điểm; các số đề 34, 43 x 55.000đ nhưng khuyến mãi tiền đề 10.000đ để được tính vào tiền trúng thưởng, tổng số tiền là 3.100.000đ, đồng thời H chép lại vào 1 mảnh giấy đưa cho ông C để làm căn cứ thanh toán. Ông C trả tiền cho H xong thì anh Ngô Công H vào mua, H ghi tích kê bán cho anh H các số lô 26, 62, 73, 37 x 25 điểm; các số đề 26, 62 x 55.000đ nhưng khuyến mãi tiền đề 10.000đ để được tính vào tiền trúng thưởng, tổng số tiền là 2.100.000đ, đồng thời H chép lại vào 1 mảnh giấy đưa cho anh H để làm căn cứ thanh toán. H trả tiền cho H xong thì anh Nguyễn Văn Tvào mua, H ghi tích kê bán cho anh T các số đề 04, 05, 43 x 10 nghìn, 50 x30 nghìn; 42, 35, 87, 78, 01, 65, 47 x 20 nghìn; 01, 47 x 30 nghìn; 01, 47, 65, 83, 92, 11, 22 x 10 nghìn; các số lô 43x 5 điểm, 35 x 5 điểm với tổng số tiền là 530.000đ; anh T ghi các số lô, số đề trên 01 mảnh giấy bằng vỏ bao thuốc lá đưa cho H, H ghi lại vào 1 mảnh giấy để theo dõi, khi đang bán cho anh Tthì bị lực lượng Công an thành phố Hải Dương kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt quả tang vào hồi 17 giờ 50’. Thu giữ của H số tiền 6.200.000đồng, 05 tờ tích kê có ghi số lô, số đề; 01 Cếc bút bi màu xanh; thu giữ của anh T số tiền 530.000đồng.

Trần Thị H thống nhất với anh H, ông C, anh D và anh T lấy kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 20-12-2017 làm căn cứ tính thắng thua. Số đề hai số được so sánh với hai chữ số cuối của giải đặc biệt. Còn số lô trùng với hai số cuối của tất cả các giải, nếu các người mua thắng mỗi điểm lô thì H trả số tiền 70.000đ; mỗi 1000đ tiền đề người mua thắng thì H trả số tiền 70.000đ, nếu người mua thua thì H được số tiền đó.

Tổng số tiền H dùng vào việc đánh bạc là 5.883.000 đồng (trong đó số tiền nhận của những người mua số lô, số đề là 5.830.000 đồng; số tiền H khuyến mại là 23.000 đồng; số tiền anh D nợ H là 30.000 đồng).

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 22/VKS-KSĐT ngày 10-01-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Trần Thị H về tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Trần Thị H khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác định VKSND thành phố Hải Dương truy tố đối với bị cáo về tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự là đúng. Đối với số tiền 30.000 đồng anh D nợ H, H tự nguyện nộp thay cho anh D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên nội dung quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội: Đánh bạc

Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Trần Thị H từ 10 triệu đến 15 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi màu xanh.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là 5.883.000đ, đã thu 5.830.000đ, bị cáo còn phải nộp tiếp 53.000đồng.

Trả lại bị cáo số tiền 900.000đ nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Bị cáo Trần Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Thị H không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương và nói lời sau cùng đề nghị được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Tòa án như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nên, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 17 giờ 30’ đến 17 giờ 50’ ngày 20-12-2017, tại nhà số 230 Nguyễn Văn Linh, phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương, Trần Thị H có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề cho anh Nguyễn Văn D với số tiền 133.000 đồng, anh Trần Văn C với số tiền 3.110.000 đồng, anh Ngô Công H với số tiền 2.110.000 đồng và anh Nguyễn Văn T với số tiền 530.000 đồng thì bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương phát hiện bắt quả tang, thu giữ gồm: 05 tờ tích kê có ghi số lô, số đề; 01 Cếc bút bi màu xanh và số tiền 6.730.000 đồng. Trong đó số tiền thu của bị cáo dùng đánh bạc tại thời điểm bị bắt là 5.830.000đ và 900.000đ là tiền riêng của H không dùng vào việc mua bán số lô, số đề. Tuy nhiên, theo các tích kê ghi tổng số tiền là 5.883.000đồng nên H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng số tiền ghi dùng đánh bạc là 5.883.000 đồng.

 [2] Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội và gây mất trật trị an tại địa phương. Trần Thị H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc lợi dụng việc Nhà nước mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc hàng ngày để đánh bạc trái phép dưới hình thức mua, bán số lô, số đề với anh Nguyễn Văn D, ông Trần Văn C, anh Nguyễn Văn T, anh Ngô Công H tổng số tiền là 5.883.000đồng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị H đủ yếu tố cấu thành tội: Đánh bạc theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự. Xác định VKSND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Trần Thị H về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, đối với bị cáo thì thấy: Về tình tiết tăng nặng: không có. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Trần Thị H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và gia đình.

[5] Về xử lý vật chứng: Tổng số tiền bị cáo Trần Thị H đánh bạc trái phép là 5.883.000đ nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Tuy nhiên cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương đã thu giữ được số tiền là 5.830.000đ. Còn số tiền H khuyến mại là 23.000 đồng và khoản tiền 30.000đ H tự nguyện nộp thay cho anh D nhưng chưa nộp nên bị cáo H còn phải nộp tiếp số tiền 53.000đồng; đối với 01 bút bi màu xanh liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy; đối với số tiền 900.000đ là số tiền hợp pháp của bị cáo không dùng vào việc mua bán số lô, số đề nên cần tuyên trả lại H số tiền trên theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng tiếp tục quản lý để bảo đảm việc thi hành án.

[6] Về án phí: Bị cáo Trần Thị H phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Đối với anh Nguyễn Văn D, ông Trần Văn C, anh Ngô Công H và anh Nguyễn Văn Tlà người mua số lô, số đề của Trần Thị H nhưng số tiền sử dụng để đánh bạc của mỗi người đều dưới 5.000.000đ, chưa bị kết án về tội này và tội quy định tại Điều 249 BLHS nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Dương đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Quá trình điều tra, Trần Thị H khai trước đó có chuyển bảng lô, đề trực tiếp cho đối tượng tên là Phương (không xác định rõ tên tuổi, địa chỉ) nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội: Đánh bạc

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 1999; khoản 1, khoản 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Trần Thị H 10.000.000đ (Mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 01 bút bi màu xanh.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Trần Thị H dùng để đánh bạc là 5.883.000đồng, đã thu 5.830.000đ, bị cáo còn phải nộp tiếp 53.000đồng.

Trả lại bị cáo Trần Thị H số tiền 900.000đồng nhưng tiếp tục quản lý để bảo đảm việc thi hành án.

(Hiện trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24-01-2018 giữa Công an thành phố Hải Dương và C cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25-11-2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm;

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 BLTTHS. Bị cáo Trần Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

"Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".


98
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2018/HS-ST ngày 25/01/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:18/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về