Bản án 18/2018/HSST ngày 15/03/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 18/2018/HSST NGÀY 15/03/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số11/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 12/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo: Nguyễn Đức T, sinh ngày 14-5-1991.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu Đ, thị trấn H, huyện H, tỉnh Th; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân M và bà Đặng Thị C; có vợ Lò Thị C; có 01 sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20-11-2017 đến ngày 23-11-2017 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; bị cáo được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1. Ông Đỗ Văn Tr, sinh năm 1963

Trú tại: Khu T, thị trần H, huyện H, tỉnh Th (vắng mặt).

2. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1970

Trú tại: Khu L, thị trấn H, huyện H, tỉnh Th (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ 30 phút ngày 20-11- 2018, tại trục đường 39A, thuộc địa phận khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Th (trước cửa Ủy ban nhân dân thị trấn H), Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đức T có hành vi cất giấu bên trong ví giả da màu đen để ở túi áo ngực bên trái của T đang mặc có 01 gói giấy bạc tráng kim, mở kiểm tra bên trong gói giấy có chứa chất bột màu trắng, dạng cục. T khai nhận đó là gói ma túy Heroine do T mua về để sử dụng cho bản thân, tiếp tục kiểm tra, thu giữ tại túi quần bên trái của T đang mặc 01 ống thủy tinh.

Tại Bản kết luận giám định 447/KLGĐ-PC54 ngày 21-11-2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin) có trọng lượng 0,1531gam (không phẩy một nghìn năm trăm ba mốt gam). Heroine STT: 20, Danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Bản cáo trạng số 13/CT-VKSHH ngày 02-02-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Đức T ra trước Toà án nhân dân huyện Hưng Hà để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 và Điều 33 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo T từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20-11-2017; Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy thu của bị cáo T là vật chứng của vụ án sau khi giám định được niêm phong trong phong bì số 447/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình,và 01 ống thủy tinh; Trả lại bị cáo T 01 ví giả da màu đen. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. 

Bị cáo T khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 20-11-2017, bị cáo đi một mình lên khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Th với mục đích để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu T, thị trấn H, bị cáo đã gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ khoảng 30 tuổi một gói ma túy (Heroine) với só tiền là 200.000đồng. Sau đó, bị cáo đã bỏ gói ma túy vừa mua được vào trong chiếc ví giả da màu đen và để ví vào trong túi áo ngực bên trái phía trước rồi đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi đi đến trục đường 39A, trước cửa Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Th thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo nhận thấy hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà lập ngày 20-11-2017 tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Th; Biên bản quản lý và niêm phong vật chứng ngày 20-11-2017 của Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 447/KLGĐ-PC54 ngày 21-11- 2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; lời khai của những người làm chứng là ông Đỗ Văn Tr và ông Nguyễn Văn D.

[3] Như vậy có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 14 giờ 30 phút  ngày 20-11- 2017, tại trục đường 39A, thuộc địa phận khu T, thị trấn H, huyện H,tỉnh Th, bị cáo Nguyễn Đức T đã có hành vi tàng trữ 0,1531gam ma túy (loại Heroine), mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện trước ngày 01 -01-2018, nhưng đến thời điểm xét xử bị cáo, Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực pháp luật, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khung hình phạt nhẹ hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, do đó, để đảm bảo tính có lợi cho bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử đối với bị cáo.

[5] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy và làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6 Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ về tác hại của ma túy, về việc Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng...trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ít nên khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, điều đó thể hiện chính sách nhân đạo của Pháp luật.

[7] Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có mục đích vụ lợi, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ số ma túy Cơ quan điều tra quản lý của bị cáo T,sau khi được giám định, số còn lại được niêm phong trong phong bì số 447/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 ống thủy tinh cần tịch thu để tiêu huỷ; 01chiếc ví giả da màu đen quản lý của bị cáo T, đây là tài sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[9] Về nguồn gốc số ma túy: Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận mua ma túy của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ cụ thể ở tại khu vực T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Th, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà không xác định được con người cụ thể để xử lý theo quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20-11-2017.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

3.1. Tịch thu tiêu huỷ 0,1240 gam (Không phẩy một nghìn hai trăm bốn mươi gam) mẫu gửi giám định và bao gói được niêm phong trong phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số 447/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và 01 ống thủy tinh.

3.2. Trả lại bị cáo Nguyễn Đức T 01 ví giả da màu đen. Toàn bộ vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02-02-2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

4. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo Nguyễn Đức T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


60
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về