Bản án 18/2018/HNGĐ-ST ngày 24/05/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 18/2018/HNGĐ-ST NGÀY 24/05/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXX-ST ngày 10 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị L sinh năm 1987.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn LĐ, xã HT, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Bị đơn:Anh Phạm Văn S sinh năm 1986.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn PH, xã HT, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Phạm Văn S xác nhận kết hôn tự nguyện, đăng ký hợp pháp ngày 24/01/2008 tại UBND xã HT, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng chỉ tồn tại một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống, anh S chơi cờ bạc thua tha, không quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Thực tế vợ chồng đã ly thân từ tháng 10/2017 đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Chị L xác định tình cảm vợ chồng đã hết, không còn khả năng đoàn tụ nên yêu cầu xin được ly hôn anh S còn anh S xin đoàn tụ.

Về con chung: Chị L, anh S đều xác nhận vợ chồng không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L, anh S đều xác nhận vợ chồng không có gì và đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh S xin đoàn tụ nhưng chị L kiên quyết xin ly hôn nên chị đề nghị Tòa án không phải mở phiên hòa giải lần hai mà đưa vụ án ra xét xử theo yêu cầu của chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức nhận xét: Quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự quy định; các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai và đề nghị xét xử vắng mặt nên không trở ngại cho việc xét xử. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử vẫn làm việc bình thường đồng thời áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Phạm Văn S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Vụ án được giải quyết đúng thời hạn, trình tự và thủ tục tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, anh S vắng mặt nhưng đã có đủ lời khai và đề nghị xét xử vắng mặt nên áp dụng điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 01 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

[1] - Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Phạm Văn S kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 24/01/2008 tại UBND xã HT, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng chỉ tồn tại một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm lối sống, anh S không quan tâm đến hạnh phúc gia đình. Thực tế anh chị đã ly thân từ tháng 10/2017 đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Chị L xin ly hôn còn anh S xin đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp gì để khắc phục, cải thiện tình cảm vợ chồng.

Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị L, anh S bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì thế, yêu cầu xin ly hôn của chị L là có căn cứ theo quy định tại khoản 01 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] - Về con chung: Chị L, anh S đều xác nhận không có và không yêu cầuTòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không  xem xét.

[3] - Về tài sản chung và nợ chung: Chị L, anh S xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] - Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ khoản 01 Điều 35, khoản 01 Điều 39, khoản 04 Điều 147, Điều 227, khoản 01 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ điểm a, khoản 05 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

XỬ:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L được ly hôn anh Phạm Văn S.

- Về con chung: Xác nhận chị L, anh S thừa nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Xác nhận chị L, anh S đều thống nhất không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được đối trừ vào 300.000 đồng dự phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001800 ngày 05/4/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị đơn.


105
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2018/HNGĐ-ST ngày 24/05/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:18/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:24/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về