Bản án 18/2017/HS-ST ngày 24/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

                              TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN                                   

BẢN ÁN 18/2017/HS-ST NGÀY 24/07/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Hồi 10 giờ 30 ngày 24 tháng 7 năm 2017, tại  Nhà văn hóa xóm M, xã P, huyện V, tỉnh Thái Nguyên mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2017/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh ngày: 03/12/1989.

- Nơi đăng ký HKTT: Thôn Ư, xã P1, huyện P2, TP Hà Nội.

- Chỗ ở: Không cố định.

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: Không nghề.

- Con ông Nguyễn Xuân S , sinh năm 1963 (đã chết) con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968, trú tại: Thôn Ư, xã P1, huyện P2, TP. Hà Nội.

- Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất;

- Chồng: Chưa có;

- Có 01 con sinh năm 2014.

- Tiền án: 01.

Ngày 11/9/2014 bị Toà án nhân dân huyện P2, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, được hoãn thi hành án vì Nguyễn Thị H đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân: Ngày 19/9/2007 bị Toà án nhân dân huyện P1, tỉnh Hà Tây xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích.

Bị cáo Nguyễn Thị H bị bắt tạm giam từ ngày 27/3/2017 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt)

*Người bị hại:

1- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm1982, (có mặt).

Trú quán: Xóm T, Thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, Sinh 1968, (có mặt).

Trú tại: Thôn Ư, xã P1, P2, TP. Hà Nội.

*Người làm chứng:

1- Anh Nguyễn Văn D - Sinh năm 1986, (có mặt).

Trú quán: Xóm T, Thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

2- Ông Hoàng Minh Trại - Sinh năm 1950, (có mặt).

Trú quán: Xóm T, Thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

2- Chị Nguyễn Thị Hằng - Sinh năm 1979, (có mặt).

Trú quán: Xóm N, xã P, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thị H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Tháng 10/2016 Nguyễn Thị H sinh năm 1989, nơi đăng ký HKTT: Thôn Ư, xã P1, P2, TP. Hà Nội có quen biết anh Nguyễn Văn D sinh năm 1986 trú tại Xóm T, Thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên qua mạng xã hội Facebook, tháng 2/2017, H đến nhà D chơi và sống với nhau như vợ chồng. Khoảng 08 giờ ngày 24/3/2017 H đi bộ đến nhà chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 là chị gái của D cùng trú tại xóm T, Thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với mục đích xin nước uống, khi đến nhà chị T thì thấy không có ai ở nhà, H nảy sinh ý định “Trộm cắp tài sản”. H đi về phía cửa chính thấy cửa chính khóa, H đi về phía cửa nách thì thấy cửa đóng nhưng không khóa liền dùng tay cầm vào tay cầm của cửa nách vặn từ trên xuống dưới thì mở được cửa và đi vào nhà. H đi vào phòng ngủ của chị T, mở tủ quần áo tìm tài sản trong các túi quần áo, khi tìm đến chiếc áo vest nữ thấy có 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 01 túi giấy màu đỏ (bao lì xì), nắn vào thấy bên trong có vật cứng nên nghĩ là vàng mà chị T cất ở đó nên đã cầm túi nilon trên rồi đóng cửa tủ và cửa nách như ban đầu. Sau khi lấy trộm được tài sản, H đi xuống bếp xách bình nước về nhà anh D, khi về đến nhà anh D thì H mở túi nilon trên kiểm tra thấy bên trong có 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 01 đôi khuyên tai hình tròn bằng kim loại màu vàng, sau đó H đã cất giấu số tài sản trên vào túi xách màu đen của mình và để túi xách lên trên nóc tủ đựng quần áo ở nhà bếp của gia đình anh D. Đến 06 giờ 30 phút ngày 25/3/2017 chị T mở tủ quần áo để kiểm tra lại tài sản thì phát hiện bị mất 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), 01 dây chuyền vàng có tuổi vàng 9999 có trọng lượng 05 (năm) chỉ, 01 đôi khuyên tai vàng có tuổi vàng 9999 có trọng lượng 01 (một) chỉ mà chị T mua ở cửa hàng vàng bạc SĐ ở phố TL, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 22/6/2016 với giá là 19.430.000 đồng. Nghi là H trộm của mình, chị T đã gọi điện nhờ D kiểm tra hộ xem H có lấy không, sau đó anh D kiểm tra túi xách của H phát hiện bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 01 túi giấy màu đỏ (bao lì xì) đựng 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, 01 đôi khuyên tai hình tròn bằng kim loại màu vàng, anh D nghi số tài sản đó là của chị T bị H lấy trộm nên đã gọi chị T đến kiểm tra. Sau khi kiểm tra, chị Tkhẳng định số tài sản (vàng) mà D tìm thấy ở trong túi xách của H là số tài sản mình bị mất, nên đã gọi chính quyền địa phương đến để giải quyết. Công an thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên đã lập biên bản sự việc tạm giữ vật chứng cùng chiếc túi xách của H bên trong có một số giấy tờ và đồ dùng cá nhân của H. Sau đó đưa H cùng vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện  V  giải  quyết  theo  thẩm quyền.  Trong  quá trình  điều  tra  đối  với  số  tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) chị T đã tìm thấy trong túi áo khoác của mình nên xác định chị T không bị mất số tiền trên.

Tại kết luận giám định số 1936 ngày 04/5/2017 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: 01 dây chuyền kim loại màu vàng được chế tác dạng các mắt xích hình trái tim nối nhau gửi giám định có tổng khối lượng 18,75 gam là vàng (Au), hàm lượng trung bình Au: 99,99%; 01 đôi hoa tai kim loại màu vàng chế tác dạng hình tròn gửi giám định có tổng khối lượng 3,75 gam là vàng (Au), hàm lượng trung bình Au: 99,99%.

Tại kết luận của Hội đồng định giá tài sản số 15/KL – HĐĐG ngày 08/5/2017 của Hội đồng định giá huyện V kết luận 01 dây chuyền bằng vàng 9999 trọng lượng 05 chỉ, có giá là 17.150.000 đồng và 01 đôi khuyên tai bằng vàng 9999, trọng lượng 01 chỉ, có giá là 3.430.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 20.580.000 đồng (Hai mươi triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng).

Ngày 09/5/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại 01 dây chuyền vàng 5(năm) chỉ, 01 đôi khuyên tai 01(một) chỉ cho chị T quản lý và sử dụng.

Cáo trạng số 15/KSĐT ngày 31/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện,

Kết thúc phần xét hỏi Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33, khoản 2 Điều 61, Điều 51 BLHS xử phạt: Nguyễn Thị H từ 18 đến 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp 09 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 52/HSST ngày 11/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện P2, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án từ 27 đến 33 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 27/3/2017. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên không giải quyết. Về vật chứng: Trả cho Nguyễn Thị H: 01 (Một) túi xách cá nhân màu đen có quai sách; 01 (Một) ví giả da kẻ ô màu đen; 01 thẻ Agribank ghi chữ NGUYEN THI H; 01 (Một) đăng ký xe mô tô, mang tên Đỗ Thị M; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 4S màu trắng bị vỡ nứt màn hình; 1 dây chuyền bằng kim loại màu vàng có 01 mặt dây chuyền màu vàng có gắn đá màu trắng (loại mỹ ký) còn giá trị sử dụng. Kê biên: 506.000đ (năm trăm linh sáu nghìn đồng) tạm giữ của H để đảm bảo công tác thi hành án. Tịch Thu tiêu hủy: 01 (một) bật lửa ga màu đỏ không có nắp sắt của Nguyễn Thị H; 01 thẻ BIDV có ghi chữ NGUYEN THI H1; 01 thẻ CO.OP mart có ghi chữ NGUYỄN THỊ H1; - Đối với 01 dây chuyền vàng 5 (năm) chỉ, 01 (một) đôi khuyên tai 01 chỉ, ngày 09/5/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại chị Nguyễn Thị T quản lý và sử dụng nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì với Viện kiểm sát.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai của Nguyễn Thị H tại phiên toà hôm nay phù hợp với đặc điểm vật chứng thu được, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc; Sơ đồ hiện trường; Lời khai của người bị hại, người làm chứng, Kết luận định giá tài sản. Hội đồng xét xử đã đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 8 giờ ngày 24/3/2017, tại xóm T, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Thị H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 1 sợi dây chuyền bằng vàng 5 (năm) chỉ và 1 đôi khuyên tai bằng vàng 01 (một) chỉ của chị Nguyễn Thị T có tổng giá trị là 20.580.000 đồng.

Hành vi của bị cáo H thực hiện như trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 138 quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến

dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

Do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Nguyễn Thị H theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Xét về ý thức chủ quan: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bản thân không bị ảnh hưởng gì về thể chất tinh thần, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mình đã gây ra.

Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy: Bị cáo Nguyễn Thị H là đối tượng có nhân thân xấu ngày 19/9/2007 bị Toà án nhân dân huyện P1, tỉnh Hà Tây xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Trộm cắp tài sản bị cáo đã chấp hành xong bản án và đương nhiên được xóa án tích. Ngày 11/9/2014 bị Toà án nhân dân huyện P2, Hà Nội xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, được hoãn thi hành án vì Nguyễn Thị H đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành người tốt, ngày 24/3/2017 bị cáo lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của gia đình bà Nguyễn Thị T đi bán lấy tiền tiêu sài. Song trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của BLHS. Bị cáo có một tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS.

Xét tính chất của vụ án kết hợp với các yếu tố về nhân thân thấy cần phải tiếp tục cách ly xã hội đối với bị cáo H, có như vậy mới cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên Tòa bị hại bà Nguyễn Thị T khai đã nhận lại tài sản không đề nghị bị cáo phải bồi thường gì thêm; Bà Nguyễn Thị H1 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu gì về dân sự. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: 01 túi xách cá nhân màu đen có quai xách; 01 ví giả da kẻ ô màu đen; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Đỗ Thị M có giấy tờ mua bán (bà Nguyễn Thị H1 mua cho H); 01 thẻ Agribank ghi chữ NGUYEN THI H; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động Iphone 4S màu trắng; 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng mặt màu vàng gắn đá màu trắng (loại mỹ ký) là tài sản của H không liên quan đến vụ án HĐXX trả lại cho H quản lý sử dụng.

- 01 bật lửa ga màu đỏ của H; 01 thẻ BIDV có ghi chữ NGUYEN THỊ H1; 01 thẻ CO.OP mart có ghi chữ NGUYỄN THỊ H1 bà Nguyễn Thị H1 đã cho H1 và xác định không còn giá trị sử dụng, bà H1 và bị cáo H1 không có yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

- Kê biên: 506.000đ tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ của H1 để đảm bảo công tác thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.0000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của VKSND huyện V tại phiên toà hôm nay về hình phạt cũng như các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

 Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 

*Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33, khoản 2 Điều 61, Điều 51 BLHS xử phạt: Nguyễn Thị H 18 (mười tám) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp 09 tháng tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại bản án số 52/HSST ngày 11/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện P2, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho hai bản án 27 (hai mươi bảy) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 27/3/2017.

Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo H trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

- Trả cho bị cáo H: 01 túi xách cá nhân màu đen có quai xách; 01 ví giả da kẻ ô màu đen; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Đỗ Thị M; 01 thẻ Agribank ghi chữ NGUYEN THI H; 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị H; 01 điện thoại di động Iphone 4S màu trắng; 01 dây chuyền bằng kim loại màu vàng mặt màu vàng gắn đá màu trắng (loại mỹ ký).

 - Tịch thu tiêu hủy : 01 bật lửa ga màu đỏ của H; 01 thẻ BIDV có ghi chữ NGUYEN THỊ H1; 01 thẻ CO.OP mart có ghi chữ NGUYỄN THỊ H1 của bà Nguyễn Thị H1.

- Kê biên: 506.000đ  (năm trăm linh sáu nghìn)  để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên flbản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục THADS huyện V ngày 11/7/2017, số tiền theo giấy Ủy nhiệm chi số 67 ngày 27/6/2017).

*Về án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.   

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

163
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2017/HS-ST ngày 24/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:18/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Võ Nhai - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/07/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về