Bản án 181/2019/HS-PT ngày 05/04/2019 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 181/2019/HS-PT NGÀY 05/04/2019 VỀ TỘI TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

Ngày 05 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 592/2018/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 294/2018/HS-ST ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn C; sinh năm 1976, tại Nam Định; nơi cư trú: 1034 đường H, phường T, Quận D, Thành p; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Đặng Thị T; có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 16/12/2015 đến ngày 05/02/2016 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C:

1. Luật sư Nguyễn K – Công ty Luật TNHH Hãng Luật Giải Phóng, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

2. Luật sư Trần Đ – Công ty Luật TNHH Hãng Luật Giải Phóng, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

3. Luật sư Nguyễn Thành S – Văn phòng Luật sư Ngô Ngọc Thủy, Đoàn Luật sư Thành phố A Nội; có mặt.

Các bị cáo Lê Ngọc H, Nguyễn Văn T, Tạ Ngọc L, Nguyễn Thị L không kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Lê Ngọc H, Nguyễn Văn T, Tạ Ngọc L, Nguyễn Thị L thực hiện nhiều vụ “Trộm cắp tài sản”, “Cướp giật tài sản” trên địa bàn quận Thủ Đức, trong đó có hai vụ án sau khi thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại, các bị cáo mang bán cho Nguyễn Văn C , cụ thể:

Ngày 02/12/2015, Lê Ngọc H cùng Nguyễn Quang A rủ nhau đi trộm cắp tài sản, khi đến nhà trọ không số thuộc hẻm 520 quốc lộ 13, khu phố 6, phường HB, quận T, Thành phố A, vào phòng trọ của anh Lê Văn T, thấy có người đang ngủ nhưng không khóa cửa, A lén lút vào phòng trọ lấy trộm được 01 chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar. Sáng hôm sau H đem đi cầm được 500.000 đồng về đưa tiền cho Hà, A cho H 100.000 đồng. Sau đó, H gặp Tạ Ngọc L và nói cho L biết có chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar lấy trộm được đem đi cầm nhưng không có tiền chuộc lại và hỏi L có xài không, L nói xài nên H đưa giấy cầm đồ cho Linh. L mang giấy cầm đồ đi chuộc chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar hết 520.000 đồng. Sau khi chuộc được chiếc điện thoại di động trên, L đem bán cho Nguyễn Văn C tại cửa hàng điện thoại di động “Minh Quang”, số 186 đường quốc lộ 13, khu phố 2, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức được 700.000 đồng. Khi mua chiếc điện thoại di động Mobistar của Linh, Nguyễn Văn C biết là do phạm tội mà có, vì L đã từng bán điện thoại di động trộm cắp được cho Cách. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức đã thu hồi chiếc điện thoại di động tại cửa hàng của Cách.

Kết luận định giá tài sản số 486 ngày 02/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thủ Đức, kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Mobistar, trị giá 2.070.000 đồng.

Khoảng 14 giờ 00 ngày 20/11/2015, Lê Ngọc Hđiều khiển xe mô tô biển số 60L3-2226 chở Nguyễn Văn Tốt đi vòng quanh khu vực thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tìm người để tài sản sơ hở thì lấy trộm. Khi đến trước quán cơm “Trung Ký” thuộc khu phố H Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, H phát hiện chị Bạch Lệ Quyên đang dừng xe cùng chiều, trên tay cầm chiếc điện thoại di động hiệu Sony Z2, H quay xe lại, dừng xe sau xe chị Quyên để Tốt đi bộ đến dùng tay giật chiếc điện thoại di động của chị Quyên, rồi chạy lên xe do H chở tẩu thoát. Sau khi cướp giật được điện thoại của chị Quyên thì H , Tốt đã đưa điện thoại di động cho Tạ Ngọc Linh. L đem điện thoại di động Sony Z2 đến cửa hàng điện thoại di động “Minh Quang”, số 186 đường quốc lộ 13, khu phố 2, phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức, do Nguyễn Văn C làm chủ, bán được 1.700.000 đồng. Khi mua chiếc điện thoại di động của L, C biết chiếc điện thoại di động trên là do phạm tội mà có, nhưng vì hám lợi nên vẫn mua. Số tiền bán điện thoại di động, Tốt, H và L chia nhau mỗi người được 560.000 đồng. Ngày 25/11/2015, Cách đã bán lại chiếc điện thoại di động mua của L cho người khác (không rõ lai lịch) được 2.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 10 ngày 08/01/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thủ Đức, kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu Sony Z2 trị giá 2.600.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức, H, Tốt, L và Loan đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Đối với Nguyễn Văn C, trong quá trình điều tra, lúc đầu Cách khai nhận hành vi phạm tội của mình nhưng sau đó thay đổi lời khai cho rằng không biết 02 chiếc điện thoại di động mua của L là tài sản do phạm tội mà có.

Tại Bản án số: 294/2018/HS-ST ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C: 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Thời gian bị cáo đã bị tạm giam trước từ ngày 16/12/2015 đến ngày 05/02/2016 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt, cứ 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Ngoài ra Bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Lê Ngọc H, Nguyễn Văn Tốt, Tạ Ngọc Linh, Nguyễn Thị Loan, phần bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

Ngày 27/11/2018, bị cáo Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo kêu oan cho rằng lời khai nhận tội trong quá trình điều tra là do bị cáo bị ép cung, dụ cung, bức cung. Bị cáo cho rằng mình không biết các điện thoại đã mua là tài sản do phạm tội mà có.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn C giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, mức hình phạt là thỏa đáng nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

Luật sư Nguyễn T trình bày: Vụ án này đã được cơ quan tiến hành tố tụng kéo dài hơn 03 năm trong quá trình điều tra vụ án có 08 kết luận điều tra bổ sung, Viện kiểm sát có 03 cáo trạng và Tòa án cấp sơ thẩm hoãn phiên tòa nhiều lần để trả hồ sơ điều tra bổ sung do tính phức tạp và do mâu thuẫn lời khai của các bị cáo. Cấp sơ thẩm đã suy luận bất lợi cho bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng trình bày là do cơ quan điều tra gây bất lợi và đưa ra 02 lý do là bị cáo bị ép cung và nhục hình. Lời khai bị cáo L bán điện thoại cho bị cáo Cách cũng mâu thuẫn mà cơ quan điều tra chưa làm rõ. Vật chứng của vụ án là chiếc điện thoại Sony z2 màu vàng thì loại điện thoại này theo xác minh của Luật sư thì không có màu vàng. Những lời khai về Sony z2 gold là không có căn cứ. Ngoài ra việc bị cáo Cách chủ động tìm đến bị hại để bồi thường là vì bị cáo Cách thấy nhiều điểm chưa hợp lý về giá trị của chiếc điện thoại mà bị hại trình bày và bị cáo Cách đã sử dụng phương pháp bồi thường cho bị hại bà Quyên 2.600.000 đồng và bà Quyên có đơn bãi nại cho bị cáo thì Hội đồng xét xử cũng cần xem xét cho bị cáo Cách. Khi chứng minh lỗi của người tiêu thụ thì phải chứng minh được lỗi của người đó. Xem lại hai biên bản đối chất, bút lục số 628, 384 mâu thuẫn cũng chưa được làm rõ. Việc không thu hồi được vật chứng là một căn cứ thiếu thuyết phục của cơ quan điều tra. Đối với bị cáo Cách không có xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng gia đình bị cáo Cách có công cách mạng, vợ bị cáo đi chùa cũng bị tai nạn chấn thương sọ não. Tuy nhiên đấy là hoàn cảnh khó khăn không phải tình tiết giảm nhẹ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cách, áp dụng Điều 361 Bộ luật tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo không phạm tội.

Luật sư Trần Đăng S trình bày: Không đủ căn cứ buộc bị cáo Cách về hành vi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có vì đối với điện thoại Sony z2 khi bị cáo mua thì bị cáo có biết là tài sản do phạm tội mà có hay không? hay vì bị cáo bị ép cung, nhục hình nên mới nhận tội. Tại bản án sơ thẩm đã bỏ qua lập luận chứng minh bị cáo Cách có tội hay không? Lời khai của bị cáo L khi mang đến bán điện thoại cho bị cáo Cách có mâu thuẫn mà cơ quan điều tra và cấp sơ thẩm chưa làm rõ, đề nghĩ Hội đồng xét xử làm rõ trong bản đối chất hay lấy lời khai của bị cáo L và bị cáo Cách. Ngày 14/2/2016, Viện kiểm sát công văn có 41 gửi Tòa án với nội dung tương tự là kết luận điều tra bổ sung số 36. Những kết luận điều tra này chưa đủ kết tội bị cáo Cách. cơ quan điều tra truy tố đưa ra lập luận bị cáo Cách biết rõ tài sản phạm tội mà có là chưa đủ căn cứ, giả sử bị cáo Cách có hành vi tiêu thụ và biết rõ do người khác phạm tội mà có. Như vậy, căn cứ vào nhìn nhận đánh giá lại rằng thời điểm mua điện thoại của bị cáo L thì bị cáo Cách biết hay chưa? Theo lời khai, Bị cáo Cách hoàn toàn không biết điện thoại đó do phạm tội mà có. Xét về tâm lý của người phạm tội, những người phạm tội sẽ che giấu hành vi không thể nào bị cáo L nói cho bị cáo Cách đây là điện thoại ăn cắp mà bán cho bị cáo Cách. Về tâm lý, bị cáo cách không biết khi mua là điện thoại ăn cắp hay nhặt được hay nhờ đi bán. Buộc bị cáo tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có là không có căn cứ. Để có hành vi tiêu thụ, phải chứng minh được bị cáo phải biết rõ tài sản đó do người khác phạm tội mà có theo điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Tuy nhiên lời khai của bị cáo L mâu thuẫn không phù hợp lời khai của bị cáo Cách. Đối với lời khai của bị hại Thanh, bản lời khai của bị hại ghi rõ là không biết điện thoại mua bao nhiêu thời điểm nào, bị cáo H hay bị cáo A khai dùng cây móc điện thoại thì lấy bằng cách nào. Kết luận điều tra lại nói lấy bằng móc treo cửa, kết luận cáo trạng thì lại truy tố cái điện thoại này được lấy bằng cách lẻn vào nhà thì sao lại bảo phòng của bị hại Thanh không đóng cửa. Căn cứ đâu xác định phòng không đóng cửa. Đó là những cái mâu thuẫn, tài sản đó phải là đối tượng của cơ quan điều tra hay không cần được làm rõ. Kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thấu tình đạt lý, chấp đơn kháng cáo của bị cáo.

Luật sư Nguyễn K trình bày: Đây là vụ án phức tạp, qua 8 lần kết luận điều tra bổ sung. Cấp Sơ thẩm xác định chứng cứ buộc tội còn nhiều điểm chưa phù hợp thực tế khách quan của vụ án. Còn thiếu người tham gia tố tụng như các bị án, các bị hại được đề nghị triệu tập ra tòa để xét hỏi và đối chất nhưng không được chấp nhận, Luật sư gặp khó khăn để tìm hiểu sự thật khách quan của vụ án. Trong khi vụ án này vấn đề mấu chốt là vấn đề tài sản. Tài sản đó là tài sản gì cơ quan điều tra chưa xác định chính xác nếu nói là Sony z2 màu gold thì là màu gì, bị cáo là người mua bán điện thoại xác định không có Sony z2 màu gold. Quá trình điều tra xét xử, không có vật chứng thì cơ sở nào xác định đây là tài sản do phạm tội mà có. Những chứng cứ quan trọng là băng ghi âm bản án sơ thẩm tách ra vụ án xử lý riêng làm sao đủ điều kiện xác định đây đảm bảo tính khách quan toàn diện cho bị cáo Cách. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, kính mong Hội đồng xét xử xem xét tuyên bị cáo Cách vô tội. Trong trường hợp Hội đồng xét xử thấy rằng không đủ căn cứ, hủy án sơ thẩm để xét xử lại.

Bị cáo nhất trí với nội dung bào chữa của các Luật sư.

Kiểm sát viên đối đáp: Các Luật sư đều nêu ý kiến là trong quá trình điều tra bị cáo Cách bị ép cung, nhục hình là không có sở sở vì lời khai của bị cáo cũng như các đoạn băng ghi âm có ghi nhận lúc làm việc giữa bị cáo và cơ quan điều tra không có hành vi ép cung nhục hình như lời của bị cáo, Luật sư trình bày và khi bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 16/12/2015 đến ngày 5/2/2016 thay đổi biện pháp ngăn chặn áp dụng cấm đi khỏi nơi cư trú, căn cứ bị cáo thay đổi lời khai là tháng 4/2017 trở về sau nên không thể nói rằng đó là chứng cứ để chứng minh bị cáo bị ép cung nhục hình. Cụ thể là lời khai 6/2/2016 và ngày 6/5/2016 bút lục 202, 203 là từ bút lục 2010 đến bút lục 2013 tức là sau khi thay đổi thì bị cáo thừa nhận hành vi giống tường trình. Đối với các Luật sư có nêu việc băng ghi âm có thể hiện quá trình cơ quan điều làm việc không đúng với quy định xâm phạm lợi ích của bị cáo thì bị cáo có thể khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật. Về quan điểm của Luật sư cho rằng tang vật đưa ra để nhận dạng không đúng tang vật mà bị hại bị mất. Qua biên bản nhận dạng ngày 24/1/2018, bút lục 897 và bút lục 898 xác định trùng hợp biên bản nhận dạng mà bị cáo L xác nhận đã bán được lập vào ngày 25/1/2018 bút lục 944 và 945 ngoài ra còn có các biên bản của các bị cáo khác cũng như bị hại Quyên tại bút lục 900 và 901 đã xác định tang vật mà bị cáo đã mua đúng như tang vật bị hại bị mất. Ngoài ra, nói thêm về bản đối chất tại bút lục 834, 835, 619, 620 ngày 21/3/2017 và ngày 17/1/2017 bị cáo Cách có thừa nhận có thời gian khoảng một tiếng rưỡi đến hai tiếng để mở mật khẩu điện thoại trên. Các vị Luật sư không có tình tiết nào mới để bào chữa cho bị cáo về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có vì như Viện kiểm sát đã nói trên. Sau khi bị cáo được tại ngoại bị cáo vẫn khai nhận. Cho đến khi sau ngày 06/2/2016 bị cáo mới thay đổi lời khai. Tại phiên tòa ngày 07/12/2016 bị cáo vẫn khai biết. Sau đó khi trả điều tra bổ sung bị cáo mới thay đổi lời khai. Đó là lời nói từ một phía của bị cáo không có tình tiết nào mới chứng minh nên Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm.

Lời nói sau cùng: Bị cáo hoàn toàn bị oan, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa phúc thẩm.

[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong vụ án, lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 20/11/2015 tại cửa hàng điện thoại di động “MQ” số 186 quốc lộ 13, khu phố 2, phường HB, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do Cách làm chủ, Nguyễn Văn C đã có hành vi mua điện thoại Sony Z2 do Tạ Ngọc L và đồng phạm thực hiện hành vi phạm tội có được.

Quá trình điều tra sau này, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như đơn kháng cáo kêu oan bị cáo Nguyễn Văn C cho rằng bị cáo bị ép cung, dụ cung nên mới khai nhận việc biết điện thoại di động bị cáo đã mua là hàng phạm pháp, thực tế khi mua hai chiếc điện thoại bị cáo không hề biết đây là hàng do phạm tội mà có mà chỉ là việc mua bán bình thường. Tuy nhiên, căn cứ vào các bản tự khai, biên bản hỏi cung bị cáo trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận:“biết điện thoại không phải của L mà do L lấy trộm hoặc của ai mà có được” (bút lục 201, bản tự khai ngày 16/12/2015), tại các biên bản ghi lời khai vào lúc 11 giờ 45 phút đến 13 giờ; lúc 15 giờ đến 16 giờ ngày 16/12/2015 bị cáo Cách khai“cách đây hai tuần người thanh niên này bán cho tôi điện thoại sony màu Gold khóa mật khẩu nên tôi biết là điện thoại này do phạm tội mà có”,“tôi biết điện thoại di động này không phải của L mà do L lấy trộm hay cướp giật của ai đó”,”khi L vào bán điện thoại di động cho tôi thì tôi biết là do L phạm tội mà có được vì L đã từng bán điện thoại trộm cắp hay cướp giật cho tôi mặc dù L không nói ra”. Lời khai của bị cáo vào các ngày 06/02/2016 và 06/5/2016 bút lục 210 đến 213 (sau khi được hủy bỏ biện pháp tạm giam) bị cáo vẫn thừa nhận toàn bộ hành vi như các lời khai về việc biết rõ các điện thoại bị cáo mua của L là tài sản do người khác phạm tội mà có. Đồng thời, Tạ Ngọc L cũng có lời khai xác định có nói cho Cách biết điện thoại do bị cáo trộm cắp của người khác (tại các búc lục 509 đến 510, 749, 753 đến 756, 785 đến 787, biên bản đối chất bút lục 619, 210), phù hợp lời khai của bị cáo L tại phiên tòa ngày 07/12/2016 (bút lục 495 đến 497) do đó không có căn cứ chấp nhận lời trình bày kêu oan của bị cáo cũng như lời bào chữa của Luật sư.

[3] Bản án sơ thẩm số: 294/2018/HS-ST ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ, đúng người đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo với mức độ nhất định được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm cải tạo không giam giữ là chưa đánh giá đúng mức về hành vi phạm tội của bị cáo, lẽ ra phải áp dụng một mức hình phạt khác nghiêm khắc hơn mới đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa loại tội phạm này. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo kêu oan, không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét phạm vi xét xử phúc thẩm theo Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C : 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Thời gian bị cáo đã bị tạm giam trước từ ngày 16/12/2015 đến ngày 05/02/2016 được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt, cứ 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


68
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 181/2019/HS-PT ngày 05/04/2019 về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Số hiệu:181/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 05/04/2019
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về