Bản án 180/2020/HSST ngày 09/09/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 180/2020/HSST NGÀY 09/09/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Trong ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 174/2020/TLST- HS ngày 18 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2020/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Phạm Thị L, sinh năm 1973, tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Ấp ATh, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết). Tiền án, tiền sự: Không. Ngày 05/4/2020, bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến ngày 15/4/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

2. Đoàn Thị Yến T, sinh năm 1982, tại tỉnh Bình Dương; ký hộ khẩu thường trú: Ấp An Thuận, xã PA, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đoàn Văn Ư, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1959; bị cáo có chồng là Dương Văn T (đã chết) và có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05/12/2013, Tòa án nhân dân huyện (nay là thị xã) Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 5.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc” theo Bản án số 249/2013/HSST (tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 4.603.000 đồng).

Ngày 05/4/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến ngày 15/4/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

3. Phan Thị Kim C, sinh năm 1984, tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Ấp Lồ Ồ, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn L (đã chết) và bà Trương Thị S, sinh năm 1963; bị cáo có chồng là Thái Tấn L, sinh năm 1982 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; Ngày 05/4/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến ngày 15/4/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

4. Trần Thị Bích V, sinh năm 1985, tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Khu phố 1, phường TĐ, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 04/12; nghề nghiệp: Công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn H, sinh năm 1960 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1960; bị cáo có chồng là Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 và có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 05/4/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến ngày 15/4/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

5. Nguyễn Khánh D, sinh năm 1992, tại tỉnh Bình Phước; hộ khẩu thường trú: Khu phố TL, thị trấn CT, huyện CT, tỉnh Bình Phước; chỗ ở: Phường TS, quận TP, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hồng C, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1951; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 05/4/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến ngày 15/4/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

6. Phan Thị Mỹ A, sinh năm 1987, tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Ấp Dòng Sỏi, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 04/12; nghề nghiệp: Nội trợ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con bà Phan Thị S, sinh năm 1968; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 05/4/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến ngày 15/4/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

7. Nguyễn Thị Kim D1, sinh năm: 1979 tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Ấp AT, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1952; bị cáo có chồng là Võ Thanh P, sinh năm 1973 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh ngày 07/01/2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

8. Huỳnh Thị Bé B, sinh năm 1963 tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Ấp Lồ Ồ, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Nội trợ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đoàn Văn L (Liệt sĩ) và bà Huỳnh Thị D, sinh năm 1937; Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn D, sinh năm 1964 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 27/02/2014, Tòa án nhân dân huyện huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Huỳnh Thị Bé B 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội: “Đánh bạc” theo Bản án số 42/2014//HSST (tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 3.100.000 đồng).

Ngày 05/4/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến ngày 15/4/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

9. Trần Thị P, sinh năm 1969, tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp VB, xã VTT, huyện CP, tỉnh An Giang; chỗ ở: Ấp Dòng Sõi, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Trần Văn Sê (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Bị cáo có chồng là Lê Phước L, sinh năm 1967 và có 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 05/4/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cho đến ngày 15/4/2020 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Võ Văn L1, sinh năm 1963, hộ khẩu thường trú: Ấp AT, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

2. Ông Phạm Minh T1, sinh năm 1974; hộ khẩu thường trú: Ấp AT, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 05/4/2020 tại vườn cây ăn trái của ông Phạm Văn Tốt (là cha Phạm Thị L) thuộc ấp AT, xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an xã AT1 phát hiện bắt quả tang Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 đang tham gia đánh bài cào 03 lá thắng thua b ng tiền, nên lực lượng Công an tiến hành thu giữ vật ch ng:

- Số tiền trên chiếu bạc: 37.500.000đ (ba mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng);

sáng;

- 08 (tám) bộ bài tây, mỗi bộ 52 lá; 01 (một) chiếc bạc; 02 (hai) đèn chiếu - Thu giữ trên người: Trần Thị P 7.500.000đ; Nguyễn Khánh D 200.000đ;

Nguyn Thị Kim D1 1.500.000đ; Phạm Thị L 74.000.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu vàng – trắng; Đoàn Thị Yến T 01 điện thoại di động hiệu Huawei, màu vàng gold; Huỳnh Thị Bé B 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh đen; Phan Thị Mỹ A: 6.500.000đ; Võ Văn L 4.000.000đ.

Quá trình điều tra, Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 khai nhận:

Khong 13 giờ ngày 05/4/2020, Lan đang đi làm thuê tại khu phố 4, phường TĐ, thị xã BC thì Huỳnh Thị Bé B gọi điện thoại rủ L về nhà của L tại ấp AT, xã AT1 đánh bạc thắng thua b ng tiền, L đồng ý và hẹn gặp nhau tại vườn cây cao su cạnh đường AT1 069 thuộc ấp AT, xã AT, thị xã BC. Khoảng 14 giờ cùng ngày, L về đến vườn cây cao su chuẩn bị tấm lót, đèn chiếu sáng, bài tây 52 lá (khoảng 4-5 cây), rồi cùng với Bé B, A, C, T, V và một số người khác (không rõ nhân thân, lai lịch) bắt đầu chơi đánh bài cáo 03 lá thắng thua b ng tiền do L làm cái, những người còn lại tham gia đặt tiền. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, có một số người tham gia đánh bạc cãi vã nhau nên cả nhóm nghỉ chơi ra về. Lúc này, L, B, A, C, T, V và một số người khác (không rõ nhân thân, lai lịch) rủ nhau đến vườn cây ăn trái của cha L là ông Phạm Văn T1 thuộc ấp AT, xã AT1 tiếp tục chơi đánh bài cào 03 lá (do L làm cái), tất cả đều đồng ý. Tại đây, trong lúc đánh bạc thì D, P và D1 đến tham gia đánh bạc. Trong lúc đánh bạc, có một số người (không rõ nhân thân, lai lịch) tham gia đặt nhưng ra về trước. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, còn lại L, B, A, C, T, V, D, P và D1 đang tham gia đánh bạc thì bị Công an xã AT1 bắt quả tang.

Cách th c đánh bài cào 03 lá và quy định thắng thua như sau: L là người làm cái, những người còn lại tham gia đặt tụ riêng, mỗi ván 01 người chơi đặt từ 100.000đ đến 1.000.000đ . Bắt đầu ván bài, L dùng bộ bài tây 52 lá chia đều cho các tụ chơi, mỗi tụ có 03 lá bài. Sau khi mở bài xem, từng người chơi đếm nút 03 lá bài và so thắng thua với tụ người làm cái, nếu tụ người làm cái có bài lớn hơn thì thắng số tiền người chơi đặt cược, nếu tụ người làm cái có bài nhỏ hơn thì chung b ng số tiền tụ người chơi đặt. Cách tính điểm như sau: Các lá bài A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 mỗi lá có số điểm tương ng từ 1 đến 9; các lá bài 10, J, Q, K mỗi lá tính 0 điểm; cộng 3 lá bài lại với nhau, lớn nhất là ba lá bài giống nhau, kế tiếp là ba lá bài liên tiếp nhau, đến ba tây (J, Q, K), tiếp đến từ 9 điểm đến 1 điểm, còn 0 điểm là bù.

Số tiền đem theo dùng để đánh bạc và thắng thua của từng người như sau:

- Phạm Thị L đem theo 79.000.000đ, lấy ra 9.000.000đ để chơi đánh bạc (trong đó 5.000.000đ để trên chiếu bạc, còn 4.000.000đ bỏ trong túi quần phía trước), còn 70.000.000đ bỏ trong 02 túi áo khoác là tiền của em trai L tên Phan Minh T1, L để riêng không sử dụng vào việc đánh bạc. Đến khi bị bắt L không biết thắng hay thua tiền đang để trên chiếu bạc bị thu giữ trong tiền tang và bị thu giữ trong túi quần phía trước 4.000.000đ, 02 túi áo khoác 70.000.000đ. Tổng số tiền L sử dụng đánh bạc là 9.000.000đ (chín triệu đồng).

- Đoàn Thị Yến T đem theo 5.500.000đ, đến khi bị bắt T thua 5.000.000đ, bị thu giữ 500.000đ trên chiếu bạc. Tổng số tiền T sử dụng đánh bạc là 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng).

- Phan Thị Kim C mượn 4.000.000đ của một người đàn ông tên Thanh (không rõ nhân thân, lai lịch) để chơi đánh bài nhưng C nói với Thanh là mượn có việc cần dùng. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/4/2020, C chơi thắng được 1.500.000đ thì Thanh gọi điện thoại đòi tiền lại, C đồng ý và hẹn Thanh đến đầu đường AT1 069 lấy tiền. Lúc này, C thấy Võ Văn L đang ngồi xem đánh bạc nên Chi đưa 4.000.000đ cho L và nhờ L cầm tiền ra đầu đường AT1 069 trả cho Thanh, L đồng ý cầm tiền trên tay và tiếp tục ngồi xem đánh bạc. Đến khi Công an bắt quả tang, C thua hết 1.500.000đ thắng được và L bị thu 4.000.000đ do C đưa. Tổng số tiền C sử dụng đánh bạc là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

- Trần Thị Bích V đem theo 4.000.000đ, đến khi bị bắt Vân thua 3.000.000đ và bị thu giữ 1.000.000đ trên chiếu bạc. Tổng số tiền V sử dụng đánh bạc là 4.000.000đ (bốn triệu đồng).

- Nguyễn Khánh D đem theo 2.500.000đ, đến khi bị bắt D thua 2.300.000đ , bị thu giữ 200.000đ trong người mục đích sử dụng đánh bạc. Tổng số tiền D sử dụng đánh bạc là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

- Phan Thị Mỹ A đem theo 7.000.000đ, lấy ra 500.000đ tham gia đặt tiền, đến khi bị bắt thua 200.000đ, bị thu giữ 300.000đ trên chiếu bạc và 6.500.000đ trong người. A khai nhận nếu thua hết 500.000đ thì A tiếp tục sử dụng 1.500.000đ để đánh bạc, còn lại 5.000.000đ A không sử dụng đánh bạc. Tổng số tiền A sử dụng đánh bạc là 2.000.000đ (hai triệu đồng).

- Nguyễn Thị Kim D1 đem theo 1.700.000đ, đến khi bị bắt D1 thua 200.000đ, bị thu giữ 1.500.000đ trong người mục đích sử dụng đánh bạc. Tổng số tiền D1 sử dụng đánh bạc là 1.700.000đ (một triệu bảy trăm nghìn đồng).

- Huỳnh Thị Bé B đem theo 600.000đ tham gia đặt, đến khi bị bắt B thua hết tiền. Tổng số tiền B sử dụng đánh bạc là 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng).

- Trần Thị P: Khoảng 20 giờ ngày 05/4/2020, P đem theo 7.600.000đ đến địa điểm đánh bạc giao nước uống theo yêu cầu của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi giao nước xong, P lấy ra 100.000đ tham gia đặt, khi L đang chia bài thì Công an bắt quả tang thu 100.000đ trên chiếu bạc và 7.500.000đ trong người mục đích không sử dụng đánh bạc. Tổng số tiền P sử dụng đánh bạc là 100.000đ.

Như vậy, tổng số tiền Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 sử dụng để đánh bạc (gồm tiền thu trên chiếu bạc và tiền thu trên người các bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc) là 48.700.000đ (bốn mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 185/CT-VKS ngày 17/8/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo: Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị như sau:

- Đề nghị áp dụng Điều 36; khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo: Phạm Thị L, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Trần Thị P, Trần Thị Bích V và Nguyễn Khánh D.

- Đề nghị áp dụng Điều 36; khoản 1 Điều 321; các điểm x, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Thị Bé B.

- Đề nghị áp dụng Điều 36; khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim D1.

- Đề nghị áp dụng Điều 36; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đoàn Thị Yến T.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo hình phạt chính và hình phạt bổ sung như sau:

- Phạm Thị L: Từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ; phạt tiền bổ sung từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

- Huỳnh Thị Bé B: Từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 04 tháng cải tạo không giam giữ; phạt tiền bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

- Phan Thị Mỹ A: Từ 10 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; phạt tiền bổ sung từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Phan Thị Kim C: Từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng cải tạo không giam giữ;

pht tiền bổ sung từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Đoàn Thị Yến T: Từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ; phạt tiền bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng.

- Trần Thị P: Từ 06 đến 08 tháng cải tạo không giam giữ; phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

- Trần Thị Bích V: Từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng cải tạo không giam giữ;

pht tiền bổ sung từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Nguyễn Khánh D: Từ 10 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; phạt tiền bổ sung từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Nguyễn Thị Kim D1: Từ 08 đến 10 tháng cải tạo không giam giữ; phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

* Về xử lý vật ch ng: Trong phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đề nghị cụ thể như sau:

- Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước gồm:

+ Số tiền 48.700.000 đồng là tiền thu giữ trên chiếu bạc và trên người các con bạc được các bị cáo dùng để đánh bạc.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng – trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei, màu vàng gold; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh đen.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 08 (tám) bộ bài tây 52 lá; 01 (một) chiếu bạc; 02 (hai) đèn chiếu sáng (đèn pin);

- Đề nghị tuyên trả số tiền 70.000.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Phạm Minh T1.

* Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tuyên tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền thu giữ trên người các bị cáo không nh m sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: 5.000.000 đồng của bị cáo Phan Thị Mỹ A và 7.500.000 đồng của bị cáo Trần Thị P.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và thừa nhận hành vi của mình như lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong phần tranh luận, tất cả các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn c vào các tài liệu ch ng c đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ch ng c , ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng mô tả. Lời khai nhận của tất cả các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 05/4/2020, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Từ khoảng 14 giờ đến 20 giờ 30 phút ngày 05/4/2020 tại vườn cây ăn trái của ông Phạm Văn T1 (thuộc ấp AT, xã AT, thị xã BC), Phạm Thị L có hành vi chuẩn bị tấm lót, bài tây 52 lá và rủ Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 đánh bài cáo 03 lá thắng thua b ng tiền do L làm cái, những người còn lại tham gia đặt tiền. Khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 37.500.000 đồng và thu giữ 11.200.000 đồng trên người các bị cáo nh m mục đích đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 48.700.000đ (bốn mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng).

Như vậy, hành vi của các bị cáo Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, bản Cáo trạng số 185/CT-VKSBC ngày 17/8/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo là có căn c , đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với Võ Văn L bị thu giữ 4.000.000đ (bốn triệu đồng) trong người, nhưng đây là số tiền Chi đưa L nhờ trả cho Thanh. L không tham gia chơi đánh bạc, chỉ ngồi xem nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy c u trách nhiệm hình sự đối với L là phù hợp.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Về nhận th c, các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc thắng thua b ng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét mục đích, động cơ phạm tội của các bị cáo là vì lòng tham, tư lợi, muốn có tiền nhanh chóng mà không phải hao tốn sức lao động nên các bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

[4] Xét tính chất đồng phạm: Các bị cáo Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 cùng tham gia thực hiện tội phạm một cách tích cực, không có sự xúi giục, giúp sức hoặc câu kết chặt chẽ vai trò của từng người, nên đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng cố ý thực hiện.

Đối với bị cáo B là người khởi xướng, rủ rê bị cáo L đánh bạc. Riêng bị cáo L là người chuẩn bị các công cụ, phương tiện phạm tội và rủ rê các bị cáo khác cùng tham gia một cách tích cực vào việc thực hiện tội phạm. Do đó, khi quyết định hình phạt cần căn c vào vai trò, m c độ thực hiện hành vi của từng bị cáo để quyết định m c hình phạt tương x ng.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt gồm:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Các bị cáo Phạm Thị L, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo Huỳnh Thị Bé B có cha tên Đoàn Văn L1 là liệt sĩ, nên bị cáo B được xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim D1 đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; bị cáo Đoàn Thị Yến T có ông nội là người có công với cách mạng, nên các bị cáo D1, T được xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo Đoàn Thị Yến T và Huỳnh Thị Bé B có nhân thân xấu, từng bị kết án về hành vi đánh bạc (hiện đã được xóa án tích). Cụ thể:

Ngày 05/12/2013, Tòa án nhân dân huyện huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương (nay là thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương) xử phạt Đoàn Thị Yến T 5.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc” theo Bản án số 249/2013/HSST (tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 4.603.000 đồng).

Ngày 27/02/2014, Tòa án nhân dân huyện huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Huỳnh Thị Bé B 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội: “Đánh bạc” theo Bản án số 42/2014/HSST (tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 3.100.000 đồng).

[8] Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung:

Xét hình phạt chính là cải tạo không giam giữ và hình phạt bổ sung là phạt tiền mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với các bị cáo L, B, A, C, T, V, D và D1 là phù hợp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, về thời hạn cải tạo không giam giữ mà vị đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo L, B, C, T, V và D là còn chưa tương x ng với tính chất nguy hiểm của hành vi, nên HĐXX xử phạt với thời hạn cao hơn m c Viện Kiểm sát đề nghị. Thời hạn cải tạo không giam giữ mà Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo A và bị cáo D là phù hợp, nên được HĐXX chấp nhận.

Về m c phạt tiền bổ sung mà vị đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo L, B, A, T, D và D là phù hợp, nên được HĐXX chấp nhận. Riêng m c phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo C và V là chưa phù hợp, nên HĐXX xử phạt với m c cao hơn với m c đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát.

Riêng đối với bị cáo P chỉ tham gia chơi với số tiền 100.000 đồng, m c độ nguy hiểm không lớn, nên HĐXX xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo P, nên không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt chính đối với bị cáo P.

Xét hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo L, B, A, C, T, V, D và D1 và phạt tiền bổ sung đối với bị cáo này theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về biện pháp tư pháp khấu trừ thu nhập, xét thấy đã áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không cần thiết khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo này.

Xét thấy, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà vị đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo tương x ng với tính chất và m c độ của hành vi phạm tội của các bị cáo, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về xử lý vật ch ng và biện pháp tư pháp:

- Đối với vật ch ng là 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu vàng – trắng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei, màu vàng gold; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh đen, Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B và Đoàn Thị Yến T khai nhận sử dụng để liên hệ đánh bạc, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 48.700.000 đồng (gồm 37.500.000 đồng tiền thu giữ trên chiếu bạc và 21.700.000 đồng thu giữ trên người các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Các vật ch ng gồm: 08 (tám) bộ bài tây, mỗi bộ 52 lá; 01 (một) chiếu bạc;

02 (hai) đèn chiếu sáng là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng nh m phụ vụ cho hành vi đánh bạc không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với số tiền 70.000.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo Phạm Thị L (không sử dụng vào mục đích đánh bạc). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lan khai số tiền này là tiền mua hàng của em trai tên Phạm Minh T1. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 07/8/2020 và Đơn trình bày ý kiến ngày 28/8/2020 ông Phạm Minh T1 cũng xác định số tiền 70.000.000 đồng mà Công an thu giữ của bị cáo Lan là tiền mua hàng của ông T1. Ông T1 có đề nghị được nhận lại số tiền này. Xét thấy, đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Phạm Minh T1, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, nên cần giao trả lại số tiền này cho ông Phạm Minh T1.

* Về biện pháp tư pháp: Cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với số tiền thu giữ trên người các bị cáo (không nh m sử dụng vào mục đích đánh bạc) gồm: 5.000.000 đồng của bị cáo Phan Thị Mỹ A và 7.500.000 đồng của bị cáo Trần Thị P.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về điều luật áp dụng:

- Áp dụng Điều 36; khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo: Phạm Thị L, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Trần Thị Bích V và Nguyễn Khánh D;

- Áp dụng Điều 36; khoản 1 Điều 321; các điểm x, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Thị Bé B;

- Áp dụng Điều 36; khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim D1;

- Áp dụng Điều 36; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đoàn Thị Yến T;

- Áp dụng Điều 35; khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Thị P;

2. Về tội danh:

- Tuyên bố các bị cáo Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 phạm tội: “Đánh bạc”.

3. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Phạm Thị L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án, Quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.

Giao bị cáo Phạm Thị L cho Ủy ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo Lan thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Phạm Thị L 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Bé B: 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án, Quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.

Giao bị cáo Huỳnh Thị Bé B cho Ủy ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo Ba thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Thị Bé B 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Phan Thị Mỹ A: 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án, Quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.

Giao bị cáo Phan Thị Mỹ A cho Ủy ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo An thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Phan Thị Mỹ A 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Phan Thị Kim C: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án, Quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.

Giao bị cáo Phan Thị Kim C cho Ủy ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo Chi thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Phan Thị Kim C 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Yến T: 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã PA, thị xã BC, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án, Quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.

Giao bị cáo Đoàn Thị Yến T cho Ủy ban nhân dân xã PA, thị xã BC, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo Tuyết thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Đoàn Thị Yến T 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Trần Thị P 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Trần Thị Bích V: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Uỷ ban nhân dân phường TĐ, thị xã BC, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án, Quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.

Giao bị cáo Trần Thị Bích V cho Ủy ban nhân dân phường TĐ, thị xã BC, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo Vân thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Bích V 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh D: 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Uỷ ban nhân dân thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước nhận được bản án, quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.

Giao bị cáo Nguyễn Khánh D cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Chơn Thành, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo Dư thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Khánh D 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim D1: 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án, Quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim D1 cho Uỷ ban nhân dân xã AT, thị xã BC, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo Dung thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Kim D1 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

4. Về xử lý vật ch ng và biện pháp tư pháp: Căn c các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

4.1. Tịch thu tiêu hủy đối với: 08 (tám) bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 (một) chiếu bạc; 02 (hai) đèn chiếu sáng (đèn pin).

4.2. Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước đối với:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng – trắng (IMEI:359232065146579 - máy bị bung màn hình); 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei, màu vàng gold (máy trầy xước); 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh đen (model RM-1134 bị trầy xước, gãy ốp lưng).

- Số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 48.700.000 đồng (gồm 37.500.000 đồng tiền thu giữ trên chiếu bạc và 21.700.000 đồng thu giữ trên người các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc).

4.3. Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền thu giữ trên người các bị cáo (không nh m sử dụng vào mục đích đánh bạc) gồm: 5.000.000 đồng của bị cáo Phan Thị Mỹ A và 7.500.000 đồng của bị cáo Trần Thị P.

4.4. Giao trả cho ông Phạm Minh T1 số tiền 70.000.000 đồng là tiền thu giữ trên người bị cáo Phạm Thị L (do không liên quan đến việc phạm tội).

(Theo Biên bản giao nhận vật ch ng ngày 09/9/2020 giữa Công an thị xã Bến Cát với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương; và theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1046035 ngày 14/8/2020 do Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước thị xã Bến Cát).

5. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Buc các bị cáo Phạm Thị L, Huỳnh Thị Bé B, Phan Thị Mỹ A, Phan Thị Kim C, Đoàn Thị Yến T, Trần Thị P, Trần Thị Bích V, Nguyễn Khánh D và Nguyễn Thị Kim D1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 180/2020/HSST ngày 09/09/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:180/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cát - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về