Bản án 180/2019/HS-ST ngày 20/06/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 180/2019/HS-ST NGÀY 20/06/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 20 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 184/2019/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Hữu Đ, sinh năm 1998 tại tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Đ, sinh năm 1976 và bà Trần Thị T, sinh năm 1980; vợ: Đỗ Thị Lan A, sinh năm: 1999; có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị truy nã ngày 05- 12-2018 đến ngày 07-4-2019 bị bắt truy nã, bị tạm giữ từ ngày 08-4-2019 sau chuyển tạm giam, hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố Nam Định; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Minh C, sinh năm 1973; địa chỉ đăng ký hộ khẩu: Số nhà xx, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ cư trú: Số nhà xxx, Phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Hữu Đ cùng Nguyễn Anh N làm phụ xe ô tô BKS: 14B - xxx thuộc nhà xe Q chạy tuyến Thái Bình - Thanh Hóa. Quá trình phụ xe Nxquen biết Đỗ Văn T, Ngô Quang Ư, và Vũ Duy L là lái xe, phụ xe ô tô khách Q BKS: 14B - xxx chạy tuyến Quảng Ninh - Ý Yên.

Khong 7 giờ ngày 23-10-2018, T lái xe khách BKS:14B - xxx từ Quảng Ninh đi Ý Yên, L và Ư là phụ xe. Đến ngã ba Đọ - Thái Bình, T thấy xe ô tô BKS: 36B - xxx của nhà xe C do anh Nguyễn Minh C điều khiển, phụ xe là anh Vương Văn D chạy phía trước nên L bảo T đuổi theo chặn xe anh C lại.

Khong 12 giờ10 phút cùng ngày anh C dừng xe ở cây xăng Lộc Hạ - Quốc lộ 10, thành phố Nam Định để đổ xăng thì xe của T đi tới chặn đầu xe anh C. L lên xe ô tô anh C bảo anh C sao lại đi giờ xe của L và bắt hết khách của L. Anh C nói xe chạy hợp đồng. L lấy bình nước bằng nhựa trên xe anh C cầm ở tay phải đập liên tiếp 2-3 nhát vào vùng trán anh C, anh D cũng bị Ư dùng tay phải đánh 2-3 nhát nhưng không gây thương tích gì, anh D bỏ chạy còn L và Ư đi về xe của T. Anh C điều khiển xe ôtô lên đỗ trước xe ôtô của T khoảng 20m để đợi anh D thì hành khách trên xe bức xúc về việc lái phụ xe bị đánh nên đã xuống quây quanh xe khách nhà xe Q. L và Ư lên xe của T lấy 02 tuýp sắt mỗi đoạn dài khoảng 60cm là dụng cụ thay lốp ô tô cầm trên tay với mục đích phòng thân. T thấy vậy điều khiển xe ô tô lùi xe vào trong sân cây xăng L, đầu xe quay hướng ra Quốc lộ 10. Anh C liền điều khiển xe ô tô khách C lùi chặn đầu xe khách Q. Ư và L đứng trước đầu xe Q thấy có nhiều hành khách xe C chạy về phía mình nên Ư bỏ chạy xuống đuôi xe thì bị 5 - 6 người là hành khách trên xe C quây giằng lấy tuýp sắt và dùng chân tay đánh vào người Ư nhưng không gây thương tích gì, Ư vùng bỏ chạy vào cây xăng L để trốn. Còn L sợ bị đánh nên bỏ chạy theo Quốc lộ 10 và bắt xe ô tô khách khác đi về thành phố Thái Bình. T ngồi trên xe Q chốt khóa cửa không cho ai lên xe.

Cùng lúc này, xe ô tô khách Q BKS: 14B - xxx N và Đ là phụ xe bị hỏng lốp Đ vá tại số xx, Khu đô thị H, phường L, thành phố N. Trong lúc đợi thợ vá lốp xe, Nvà Đ mượn xe máy BKS: 18S5 - xxx của anh Nguyễn Mạnh T là chủ cơ sở đi siêu thị xxx mua đồ. Trên đường đi, N cầm theo máy điện thoại thường dùng liên lạc với khách hàng ngày của nhà xe Q. Thấy chuông đổ hiện số 0946.xxxxx của nhà xe T do anh Vũ Bá N là lái xe ô tô khách T, BKS: 36B - xxxxx chạy tuyến Thanh Hóa - Hải Phòng thông báo khi đi ngang qua cây xăng L thấy xe ô tô khách C chặn đầu xe ô tô BKS: 14B - xxxx. Lúc này, N nghĩ xe BKS: 14B - xxxx có va chạm nên bảo Đ quay lại cây xăng L xem L có bị sao không. Trên đường đi N có nói với Đ: "Khả năng ông L bị đánh, anh em mình xuống xem can ngăn. Nếu chúng nó đánh mình thì mình đánh lại", Đ đồng ý. Sau đó N điều khiển xe máy chở Đ đến cây xăng L dựng xe máy trước đầu xe ôtô của anh C.

Thấy nhiều người Đ quây quanh xe Q và không thấy L đâu, nghĩ L bị đánh nên N chỉ tay về phía xe C chửi: "Đ. mẹ thằng lái phụ xe này đâu. Chúng mày ra đây tao gặp", Đ cầm gậy sắt ba khúc dài khoảng 20cm mang sẵn ở trong người (Đ khai để phòng thân) chỉ về phía mọi người đe dọa. Nhìn thấy anh C đi bộ về ngã tư Đệ Tứ - Quốc lộ 10 nghĩ anh C là người đánh L nên Đ điều khiển xe máy đuổi theo anh C để đánh. N chạy bộ đuổi theo anh C được khoảng 20m thì anh C chạy vượt qua giải phân cách hàng rào Quốc lộ 10 sang bên đường ngược chiều để bỏ chạy. Đ cầm theo gậy sắt lấy xe máy điều khiển đi đến ngã tư Đệ Tứ đi vòng ngược lại chặn đầu anh C. Nđuổi theo anh C sang phía đường đối diện khoảng 05m thì đuổi kịp, dùng tay phải túm cổ áo anh C giữ lại. Anh C cúi người xuống đường nhặt 1/2 viên gạch xây kích thước khoảng (5x7x3)cm cầm ở tay phải giơ lên đập về phía người N. N bỏ cổ áo anh C và giơ hai tay lên đỡ trước mặt thì bị viên gạch của anh C đập trúng vào bắp tay phải làm xước da dài 01cm và cẳng tay trái làm xước da dài 04cm. Sau đó anh C tiếp tục bỏ chạy khoảng 10m thì N lại đuổi kịp dùng tay phải túm tóc anh C lôi lại và dùng tay trái tát liên tiếp 2,3 phát vào mặt anh C. Anh C nhặt dưới đường một viên gạch xây kích thước (10x10x5)cm cầm trên tay trái giơ lên đập về phía N. Lúc này, Đ đi xe máy đến xuống xe và đứng ngay sát người anh C và hô lên: “Cứ đầu nó mà vụt” đồng thời dùng gậy ba khúc đã rút dài khoảng 60cm vụt từ trên xuống dưới trúng mu bàn tay trái Đ cầm gạch của anh C làm rơi viên gạch xuống đất. Anh C dùng tay phải ôm lấy mu bàn tay trái và nằm ra đường. N xông vào tát liên tiếp 2,3 phát vào mặt anh C. Đ cũng dùng chân tay đấm, đá vào người anh C. Thấy anh C không kháng cự nên N và Đ không đánh nữa, N bảo Đ chở anh C ra chỗ vắng người để đánh tiếp Đ đồng ý. Đ lên xe nổ máy ngồi sẵn, N kéo anh C lên xe bắt anh C ngồi giữa còn mình ngồi sau giữ anh C. Đ điều khiển xe máy theo Quốc lộ 10 hướng siêu thị xxx, trên đường anh C nói:"Anh xin các em, anh biết anh sai rồi, các em tha cho anh". N và Đ không nói gì mà tiếp tục chở anh C đi tiếp. Khi đi đến cây xăng Lộc Vượng - Quốc lộ 10, phường L thì xe máy bị hết xăng, Đ dắt xe máy vào đổ xăng, anh C ôm chân Đ xin thì bị Đ giơ gậy ba khúc lên đe dọa và nói: "Địt mẹ mày thích đánh xe nhà tao à". N kéo anh C ra khỏi xe máy và dùng chân đá liên tiếp hai phát vào mặt anh C. Anh C giơ hai tay lên ôm mặt thì Đ lại tiếp tục dùng chân đá nhiều nhát vào người anh C. Anh C liên tục nhận sai và van xin nên N và Đ không đánh nữa rồi lấy xe máy bỏ về nơi sửa ôtô nhưng không gặp ô tô nên Nvà Đ đón xe đi về Quảng Ninh; trên đường đi Đ đã vất chiếc gậy 3 khúc xuống sông ở khu vực Cầu Đá, thành phố Nam Định. Anh C được đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định cấp cứu đến ngày 24-10-2018 sau đó điều trị tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đến ngày 03- 11-2018 xuất viện về điều trị tại gia đình.

Ngày 05-11-2018 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định giám định tỷ lệ thương tích của anh Nguyễn Minh C. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 240/18/TgT ngày 12-11-2018 Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Tỷ lệ thương tích của anh Nguyễn Minh C là 18% (Mười tám phần trăm) tạm thời. Sau khi thu thập được giấy chứng nhận thương tích, ngày 03-12-2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định bổ sung tỷ lệ thương tích đối với anh Nguyễn Minh C. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 265/18/TgT ngày 10-12-2018 Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Tỷ lệ thương tích của anh Nguyễn Minh C là 18% (Mười tám phần trăm); cơ chế gây thương tích: Vật cứng tác động gây thương tích.

Sau khi thu thập tài liệu chứng cứ, ngày 14-11-2018, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Anh N và Phạm Hữu Đ về tội “Cố ý gây thương tích”.

Quá trình thi hành Lệnh bắt, Nguyễn Anh N và Phạm Hữu Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định đã ra quyết định truy nã đối với Nguyễn Anh N và Phạm Hữu Đ. Đến ngày 26-11-2018 Nguyễn Anh N ra đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nam Định, đã bị truy tố và xét xử tại Bản án số 75/2019/HS-ST ngày 18-3-2019 theo quy định của pháp luật. Còn Phạm Hữu Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Nam Định bắt truy nã tại thành phố Cà Mau ngày 07-4-2019. Tại cơ quan Công an thành phố Cà Mau và cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, gia đình Phạm Hữu Đ đã tự nguyện bồi thường cho anh C 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), anh C nhận số tiền này và yêu cầu Phạm Hữu Đ bồi thường tiếp cho đủ 325.000.000 đồng (ba trăm hai mươi lăm triệu đồng).

Về vật chứng của vụ án: Chiếc gậy sắt ba khúc do Phạm Hữu Đ sử dụng đánh gây thương tích cho anh C, Đ khai đã vất xuống sông khu vực cầu Đá - Quốc lộ 10 cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Đi với hành vi Vũ Duy L dùng bình giữ nhiệt đập vào trán anh C. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật của anh C tại Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định, kết quả không xác định tỷ lệ phần trăm thương tật và cơ chế hình thành vết thương do L gây ra cho anh C. Vì vậy hành vi của Vũ Duy L không cấu thành tội phạm, Công an thành phố Nam Định đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành C đối với Vũ Duy Linh .

Đi với hành vi của Ngô Quang Ư dùng tay tát vào mặt anh Vương Văn D, anh D đã có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tích và không yêu cầu Ư đền bù về mặt dân sự. Công an thành phố Nam Định đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành C đối với Ngô Quang Ư.

Bản cáo trạng số 185/CTr-VKS ngày 31-5-2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Phạm Hữu Đ tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình và khai thương tích ở tay của anh C do bị cáo dùng gậy sắt 3 khúc gây nên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Hữu Đ về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự); điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Hữu Đ từ 39 tháng tù đến 42 tháng tù. Về phần bồi thường dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tách phần dân sự để giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 23-10-2019, Phạm Hữu Đ cùng với Nguyễn Anh Ngọc, sinh năm 1999, trú tại: Tổ xxx phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình đã dùng tay, chân và gậy sắt 3 khúc đánh gây thương tích cho anh Nguyễn Minh C với tỷ lệ thương tích là 18%.

Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng, lời khai của người bị hại, bản kết luận giám định pháp y về thương tích, thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Hữu Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo không có mâu thuẫn gì với người bị hại nhưng bị cáo đã cùng đồng bọn gây thương tích cho người bị hại và sử dụng gậy sắt 3 khúc làm công cụ gây thương tích nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

4.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại về sức khỏe cho người bị hại, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa không có tài liệu, chứng cứ về việc bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại, vì vậy bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4.3. Về hình phạt:

Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự công cộng. Sau khi thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại, bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra vụ án; bị cáo là người trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Vì vậy cần ấn định cho bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn thành phố.

[5] Về bồi thường dân sự:

Trong quá trình điều tra, gia đình Phạm Hữu Đ đã tự nguyện bồi thường cho anh C 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), anh C nhận số tiền này và yêu cầu Phạm Hữu Đ bồi thường tiếp cho đủ 325.000.000 đồng (ba trăm hai mươi lăm triệu đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu bị hại cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Bị hại có yêu cầu nhưng không cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Xét bị hại vắng mặt tại phiên tòa và sự vắng mặt của bị hại thật sự trở ngại cho việc giải quyết phần dân sự và phần dân sự không liên quan đến việc xác định cấu thành tội phạm; không liên quan đến việc xem xét tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử tách để giải quyết phần dân sự trong vụ án bằng một vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.

[6] Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu Đ phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Phạm Hữu Đ 48 (bốn mươi tám) tháng tù.

- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08-4-2019.

2. Tách để giải quyết phần dân sự trong vụ án bằng một vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo Phạm Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự: Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


139
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 180/2019/HS-ST ngày 20/06/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:180/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về