Bản án 172/2020/HNGĐ-ST ngày 01/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 172/2020/HNGĐ-ST NGÀY 01/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 01 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 276/2020/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 6 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Hồng Ch, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Bá T, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 15/6/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trần Hồng Ch trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2015 chị và anh Huỳnh Bá T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày, mục đích sống khác nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã và anh T có đánh chị nên năm 2017 chị đã ra Tòa ly hôn nhưng sau đó được sự hàn gắn của hai bên gia đình và muốn tạo cơ hội cho cả hai nên chị quyết định rút đơn lại và tiếp tục chung sống với anh T. Sau khi hàn gắn cuộc hôn nhân giữa chị và anh T vẫn không hạnh phúc, anh T không đánh chị như trước nhưng thường xuyên uống rượu và mỗi lần uống rượu thì anh T hăm dọa, đòi đánh chị, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và ảnh hưởng đến tâm lý của chị, chị và anh T đã ly thân từ tháng 11/2019 âm lịch cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, có tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc nên chị quyết định ly hôn với anh Huỳnh Bá T.

Về con chung: Chị và anh Huỳnh Bá T có 01 (một) người con chung tên là Huỳnh Trần H, sinh ngày 30/6/2017, hiện tại con đang sống với mẹ. Sau khi ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H và yêu cầu anh Huỳnh Bá T mỗi tháng cấp dưỡng nuôi con với mức tối thiểu theo quy định của pháp luật là 745.000 đồng.

Về tài sản chung: Chị và anh Huỳnh Bá T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là anh Huỳnh Bá T được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà anh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu xin ly hôn của chị Ch. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ 02 lần thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chỉ có nguyên đơn chị Trần Hồng Ch có mặt theo triệu tập của Tòa án, bị đơn anh Huỳnh Bá T vắng mặt không lý do, nên không tiến hành hòa giải được, cũng như nghe ý kiến của anh T về yêu cầu ly hôn của chị Ch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa chị Trần Hồng Ch và anh Huỳnh Bá T là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, nuôi con”, bị đơn có nơi cư trú tại Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Huỳnh Bá T vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Hồng Ch và anh Huỳnh Bá T tự nguyện tiến đến hôn nhân. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 02/12/2015 nên đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Ch và anh T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Theo trình bày của chị Trần Hồng Ch thì nguyên nhân dẫn đến chị yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Bá T là do vợ chồng chị có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày, mục đích sống khác nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã và anh T có đánh chị nên năm 2017 chị đã ra Tòa ly hôn nhưng sau đó được sự hàn gắn của hai bên gia đình và muốn tạo cơ hội cho cả hai nên chị quyết định rút đơn lại và tiếp tục chung sống với anh T. Sau khi hàn gắn cuộc hôn nhân giữa chị và anh T vẫn không hạnh phúc, anh T không đánh chị như trước nhưng thường xuyên uống rượu và mỗi lần uống rượu thì anh T hăm dọa, đòi đánh chị, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và ảnh hưởng đến tâm lý của chị, chị và anh T đã ly thân từ tháng 11/2019 âm lịch cho đến nay. Đối với anh Huỳnh Bá T, trong quá trình tố tụng, anh T không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị Ch. Như vậy, anh T đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân đối với chị Ch. Xét thấy, tình cảm vợ chồng chị Trần Hồng Ch và anh Huỳnh Bá T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Hồng Ch là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Trần Hồng Ch và anh Huỳnh Bá T có 01 (một) người con chung tên là Huỳnh Trần H, sinh ngày 30/6/2017, hiện tại cháu H đang sống với chị Ch. Sau khi ly hôn chị Ch muốn được nuôi dưỡng cháu Huỳnh Trần H. Xét thấy, hiện nay cháu H còn nhỏ và đang sống ổn định với chị Ch, nên cần giao cháu H cho chị Ch nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, việc cấp dưỡng nuôi con chung là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Theo chị Trần Hồng Ch trình bày thì hiện nay chị đã có công việc và thu nhập ổn định nên chị chỉ yêu cầu anh Huỳnh Bá T cấp dưỡng nuôi con chung với mức tối thiểu theo quy định của pháp luật là 745.000 đồng kể từ ngày ly hôn cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Xét thấy mức cấp dưỡng 745.000 đồng là do nguyên đơn tự nguyện yêu cầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về tài sản chung: Chị Trần Hồng Ch yêu cầu được tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về nợ chung: Chị Trần Hồng Ch trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Trần Hồng Ch phải chịu theo quy định của pháp luật. Án phí cấp dưỡng nuôi con anh Huỳnh Bá T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 227, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

 - Các Điều 51, 53, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Hồng Ch. Chị Trần Hồng Ch được ly hôn anh Huỳnh Bá T.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Trần H, sinh ngày 30/6/2017 cho chị Trần Hồng Ch tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.

Anh Huỳnh Bá T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Trần Hồng Ch.

Anh Huỳnh Bá T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Trần H mỗi tháng 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật và người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nói trên thì phải chịu thêm lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền chậm thi hành trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Về tài sản chung: Chị Trần Hồng Ch yêu cầu được tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Chị Trần Hồng Ch trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Trần Hồng Ch phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị Ch đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005476 ngày 15 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Huỳnh Bá T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm cấp dưỡng nuôi con có định kỳ.

Chị Trần Hồng Ch được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Huỳnh Bá T vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 172/2020/HNGĐ-ST ngày 01/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:172/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:01/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về