Bản án 17/2021/HSST ngày 05/02/2021 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN – TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 17/2021/HSST NGÀY 05/02/2021 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2021/HSST ngày 14/01/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXX ngày 21/01/2021, đối với bị cáo:

Mẫn Xuân T – Tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/11/1992;

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: tổ dân phố Thái Bình Con Trê, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12. Con ông Mẫn Xuân Thoan (sinh năm 1961) và bà Nguyễn Thị Len (sinh năm 1969) trú tại tổ dân phố Thái Bình Con Trê, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên;

Bị cáo có bốn anh chị em. Thuấn là con thứ nhất; có vợ là Trần Thị Ưng, sinh năm 1997; Vợ chồng có 02 con chung (lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2015);

Tiền án: Tại Bản án số: 20/2019/HSST ngày 07/3/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, ngày 03/02/2020 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Tại Bản án số: 99/2013/HSST ngày 31/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên (nay là thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”.

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0004306 ngày 27/11/2018 của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”.

Biện pháp ngăn chặn: Mẫn Xuân Thuấn không bị giam giữ, được áp dụng biện pháp "Cấm đi khỏi nơi cư trú" tại TDP Thái Bình Con Trê, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Hồng T , sinh năm 1954 – Có đơn vắng mặt ĐKHKTT: TDP Thái Bình Con Trê, phường Đồng Tiến, TX Phổ Yên, Thái Nguyên.

* Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Hồng T , sinh năm 1954 ĐKHKTT: TDP Thái Bình Con Trê, phường Đồng Tiến, TX Phổ Yên, Thái Nguyên.

2. Anh Nguyễn Văn K , sinh năm 1972 ĐKHKTT: TDP Thái Bình Con Trê, phường Đồng Tiến, TX Phổ Yên, Thái Nguyên.

3. Ông Nguyễn Văn Tồn, sinh năm 1962 ĐKHKTT: Xóm Tam Xuân, xã Nga My, huyện Phú Bình, Thái Nguyên.

4. Anh Dương Văn , sinh năm 1979 ĐKHKTT: Xóm Liên Minh, xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên

5. Anh Nguyễn Viết T sinh năm 1986 ĐKHKTT: TDP Thái Bình Con Trê, phường Đồng Tiến, TX Phổ Yên, Thái Nguyên. (Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 20 phút ngày 17/9/2020, tổ công tác Công an thị xã Phổ Yên phát hiện, bắt quả tang tại nhà ở của Nguyễn Hồng T (sinh năm 1954) thuộc tổ dân phố Thái Bình Con Trê, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên có các đối tượng: Mẫn Xuân T , Nguyễn Văn T (sinh năm 1962, trú tại: xóm Tam Xuân, xã Nga My, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên), Nguyễn Văn Khuyến (sinh năm 1972, trú tại: Tổ dân phố Con Trê, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) và Dương Văn Ư (sinh năm: 1979, trú tại: xóm Liên Minh, xã Hồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) đang đánh bạc dưới hình thức đánh “Chắn” được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tang vật thu giữ trên chiếu bạc số tiền 1.770.000 đồng (Một triệu bẩy trăm bẩy mươi nghìn đồng) là tiền của các đối tượng sử dụng để đánh bạc, 01 (một) đĩa sứ màu xanh có hoa văn, 01 (một) vỏ hộp sữa Ensua bên trong đựng 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng), 01 (một) bộ bài chắn gồm 100 quân bài, 01 (một) chiếu nan tre. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc và niêm phong vật chứng (tiền thu giữ) theo quy định: trong đó 1.770.000đ được niêm phong trong bì thư ký hiệu T1; số tiền 30.000đ thu trong vỏ hộp sữa Ensua được ký hiệu T2;

bộ bài đánh chắn gồm 100 quân được niêm phong trong bì thư ký hiệu TB.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khác tham gia đánh bạc khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 17/9/2020, Nguyễn Văn Khuyến, Dương Văn Ư , Nguyễn Văn T đến nhà Nguyễn Hồng T ngồi chơi uống nước. Tại đây, Thái rủ Khuyến, Tồn, Ưng đánh bạc dưới hình thức đánh “Chắn” được thua bằng tiền Việt Nam đồng thì Khuyến, Tồn, Ưng đồng ý tham gia đánh bạc với T . Về hình thức chơi “chắn” được các đối tượng quy ước như sau: Trước khi đánh bạc mỗi người tham gia đánh bạc sẽ bỏ ra 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đặt ở giữa chiếu bạc gọi là “Hội”, ai thắng trong các ván bạc thì sẽ lấy tiền ở hội ra để trả, kết thúc mỗi hội sẽ bỏ ra 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) để vào trong vỏ hộp sữa Ensua cho Nguyễn Hồng T để T cho các đối tượng được đánh bạc tại nhà ở của Thái. Khi tham gia đánh bạc người cầm cái sẽ chia bài, bộ bài chắn gồm 100 quân được chia đều cho mỗi người tham gia đánh bạc 19 quân bài, số còn lại để dưới chiếu gọi là “Nọc” dùng để bốc, đánh đến khi nào có người Ù hoặc hết số quân bài dùng để bốc thì kết thúc ván bạc. Người Ù được trả thưởng như sau: Ù tám đỏ hai lèo là 120.000 đồng (Một trăm hai mươi nghìn đồng), Ù bạch định là 70.000 đồng (Bẩy mươi nghìn đồng), Ù lèo là 60.000 đồng (Sáu mươi nghìn đồng), Ù tôm là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), Ù bạch thủ là 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng), Ù xuông là 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng). Các đối tượng đánh bạc được khoảng 10 phút thì có Mẫn Xuân T đến, lúc này T không tham gia đánh bạc nữa, T lấy lại số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) đã góp vào hội và nhường chỗ cho T tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến 09 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an thị xã Phổ Yên phát hiện bắt quả tang như nêu trên.

Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.000.000đ (Hai triệu đồng), gồm: K sử dụng 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), T sử dụng 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), Ư sử dụng 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), T sử dụng 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), T i sử dụng 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Để có căn cứ xác định hành vi phạm tội của những người tham gia đánh bạc trái phép ngày 03/11/2020 Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phổ Yên ra Quyết định trưng cầu giám định số: 371/ĐCSH đối với số tiền thu giữ khi bắt quả tang 1.800.000đ, được niêm phong trong hai bì thư ký hiệu T1 và T2 là tiền giả hay tiền thật.

Tại Kết luận giám định số 1375/KL-KTHS ngày 10/11/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Số tiền gửi giám định trong phong bì (ký hiệu: T1, T2) là tiền thật.

Với nội dung nêu trên tại bản cáo trạng số 16/CT - VKSPY ngày 12/01/2021, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên đã truy tố Mẫn Xuân T về tội Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

- Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo: Mẫn Xuân Thuấn về tội “Đánh bạc” tại bản cáo trạng truy tố đã thể hiện.

Về nhân thân: Bị cáo T có 01 tiền án về tội Đánh bạc chưa được xóa án tích nên là căn cứ định tội đối với lần phạm tội này Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Vì những căn cứ nêu trên Đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo: Mẫn Xuân Thuấn đã phạm tội “Đánh bạc”.

*Về hình phạt chính: đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, xử phạt Mẫn Xuân Thuấn từ 09 – 12 tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

nh phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS, phạt tiền sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo Mẫn Xuân T từ 10 - 12 triệu đồng.

Xử lý vật chứng: Tiêu hủy công cụ dùng phạm tội theo quy định. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước tiền thu giữ trên chiếu bạc 1.800.000đ, Tịch thu tiêu hủy bộ bài bài chắn gồm 100 quân; 01 đĩa sứ màu xanh có hoa văn; 01 chiếu nan tre; 01 vỏ hộp sữa Ensua,màu xanh - trắng.

- Truy thu số tiền 200.000đ của Nguyễn Hồng Thái do đã sử dụng để đánh bạc.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Ý kiến tranh luận của của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị HĐXX cho hưởng lượng khoan hồng với mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo và đại diện VKS thị xã Phổ Yên không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để HĐXX xem xét.

- Những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, kiểm sát viên, bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy việc những người làm chứng vắng mặt nhưng trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ nên việc vắng mặt họ không gây trở ngại cho quá trình xét xử . Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 293 BLTTHS, xét xử vắng mặt họ theo quy định của pháp luật;

[2]. Về căn cứ phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa ngày hôm nay, qua xét hỏi, bị cáo: Mẫn Xuân T hoàn toàn khai nhận: Việc đánh bạc bằng hình thức đánh chắn diễn ra ừ 08 giờ 30 phút đến 9 giờ 20 phút ngày 17/9/2020, tại gia đình nhà Nguyễn Hồng T bị phát hiện bắt quả tang là do bị cáo cùng một số người là bạn đến nhà Nguyễn Hồng Thái chơi và uống nước, sau đó cùng rủ nhau đánh bạc. Trước khi đánh bạc tất cả thống nhất bỏ ra mỗi người 200.000đ, gọi là góp “Hội”. Công cụ, phương tiện khác là bộ bài đánh chắn 100 quân, chiếu nan tre trải nền nhà là của Nguyễn Hồng T , trong khi đánh bạc không phân công canh gác, mục đích đánh bạc để vui chơi giải trí. Khi CQĐT công an bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.770.000đ dùng để đánh bạc. Ngoài ra thu giữ 01 (một) vỏ hộp sữa Ensua bên trong đựng 30.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo và những người chơi sử dụng để tham gia đánh bạc là 2.000.000đ. Tuy nhiên, Nguyễn Hồng Thái tự ý không tham gia tiếp đã rút lại số tiền góp hội ban đầu 200.000đ. Bị cáo T xác định: khi tham gia đánh bạc, quy định bắt buộc mỗi người chơi đều phải góp hội là 200.000đ, Nguyễn Hồng T là chủ nhà nhưng vẫn phải nộp vào hội, khi không chơi tiếp đã tự ý rút lại số tiền góp hội.

t lời khai nhận tội của bị cáo Mẫn Xuân T tại quá trình điều tra và tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và kết quả giám định số tiền sử dụng đánh bạc trái phép là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Do đó, HXĐXX có căn cứ xác định: Hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh chắn, được thua bằng tiền của bị cáo Mẫn Xuân T là vi phạm pháp luật. Tuy số tiền sử dụng vào việc đánh bạc khi bị bắt giữ dưới 5.000.000đ, nhưng bị cáo có 01 tiền án về cùng loại tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích nên đó là căn cứ định tội đối với lần vi phạm này. Do đó, cáo trạng số: 16/CT - VKSPY ngày 12/01/2021 của VKS nhân dân thị xã Phổ Yên đã truy tố Mẫn Xuân T về tội danh và điều luật viện dẫn tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật.

Cụ thể: “Điều 321: Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này... hoặc đã bị kết án về tội này..., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....

[3] Về ý thức thực hiện hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình: Bị cáo là người đủ năng lực, trách nhiệm hình sự, nhưng do lười lao động, ham vui chơi liên tục thực hiện hành vi đánh bạc bị kết án nhiều lần, có bản án đến nay chưa được xóa án tích, cụ thể:

- Ngày 13/8/2018 Mẫn Xuân T có hành vi đánh bạc bị Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù tại Bản án số 20/2019/HSST ngày 07/3/2019. Đến ngày 03/02/2020 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, chưa nên được xóa án tích.

- Tại Bản án số 99/2013/HSST ngày 31/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Phổ Yên (nay là thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong hình phạt và các nghĩa vụ khác nên đương nhiên được xóa án tích.

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0004306 ngày 27/11/2018 của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Đã chấp hành xong được xóa vi phạm.

Với các vi phạm nêu trên đến nay lại tiếp tục có hành vi đánh bạc điều đó cho thấy bị cáo T coi thường pháp luật. Do đó, khi lượng hình HĐXX sẽ cân nhắc mức án để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa.

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng và phải chịu:

Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xong hành vi của bị cáo làm mất trật tự trị an tại địa phương, cờ bạc là tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, kinh tế của gia đình bản thân các bị cáo và còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, việc đưa ra xét xử là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung để đẩy lùi tệ nạn này ra khỏi cộng đồng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Bị cáo Mẫn Xuân Thuấn được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là ”người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS theo Điều 52 BLHS.

[5]. HĐXX nhận định về hình phạt cần áp dụng: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi đánh bạc trái phép vi phạm pháp luật. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ TNHS cũng như nhân thân của bị cáo nên HĐXX quyết định xử hình phạt tù có thời hạn tương xứng đối với bị cáo nhằm giáo dục đối với bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[5].Về hình phạt bổ sung: Theo quy định khoản 3 Điều 321 BLHS thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 triệu đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, để mang tính giáo dục và phòng ngừa cần phạt khoản tiền nhất định đối với bị cáo để sung công quỹ Nhà nước.

[6]. Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên tại phiên tòa đối với bị cáo Thuấn là có căn cứ, đúng luật, phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7]. Vật chứng: Về số tiền thu giữ: 1.800.000đ, trong đó 1.770.000đ tiền VNĐ thu tại chiếu bạc; 30.000đ thu trong vỏ hộp sữa xác định là tiền phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Truy thu số tiền 200.000đ của Nguyễn Hồng T (do góp hội để đánh bạc). Thái phải nộp để thi hành án.

Các vật chứng khác gồm: Bộ bài chắn 100 quân; 01 chiếc chiếu nan tre; vỏ hộp sữa; 01 đĩa bằng sứ được xác định của gia đình ông T . Xét thấy đây là công cụ bị cáo và những người cùng chơi sử dụng để phạm tội nên cần tiêu hủy theo quy định.

[8]. Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Các vấn đề khác:

Trong vụ án này, còn có Nguyễn Hồng T , Nguyễn Văn K , Dương Văn Ư , Nguyễn Văn Tồn tham gia đánh bạc. Tuy nhiên số tiền thu trên chiếu bạc dưới 5.000.000đ, nên hành vi của Thái, Khuyến và Tồn không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự nên Công an thị xã Phổ Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền trong lĩnh vực an ninh, trật tự theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012Nghị định 167/2013 của Chính phủ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Mẫn Xuân T phạm tội “Đánh bạc” .

2. Về hình phạt * Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Mẫn Xuân T 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

*Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS:

Phạt tiền để sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo Mẫn Xuân Thuấn là 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ hộp sữa Ensua màu xanh - trắng; 01 phong bì niêm phong ký hiệu TB ghi bộ chắn gồm 100 quân bài; 01 đĩa sứ màu xanh có hoa văn, 01 chiếu nan tre đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa CQĐT Công an thị xã Phổ Yên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên ngày 12 tháng 01 năm 2021);

3.2: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Tiền VNĐ 1.800.000 (Một triệu tám trăm ngàn đồng).

(Theo Ủy nhiệm chi chuyển tiền điện tử số 3 lập ngày 13 tháng 01 năm 2021, giữa CQĐT công an thị xã Phổ Yên và Kho bạc Nhà nước thị xã Phổ Yên chuyển tiền vào tài khoản số 3949.0.1054784.00000 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phổ Yên số tiền 1.800.000đ).

- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ của Nguyễn Hồng Thái do sử dụng để phạm tội (Nguyễn Hồng T phải nộp để thi hành án).

4. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Mẫn Xuân T phải chịu 200.000đ án phí HSST nộp ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 BLTTHS Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên tòa. Báo cho biết bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người liên quan (ông Thái) ông Thái có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.


24
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về