Bản án 17/2021/HS-ST ngày 02/02/2021 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 17/2021/HS-ST NGÀY 02/02/2021 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 02 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2021/TLST- HS ngày 13 tháng 01 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2021/ QĐXXST- HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Đào Xuân Đ - Sinh năm 1965; nơi sinh: Tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn Thông 2, xã Khánh C, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Xuân L và bà Hà Thị H; có vợ: Chị Phạm Thị V và có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 2001.

Tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/10/2020 đến ngày 01/11/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trúcho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Điền Đức Đ; sinh năm 1987; trú tại: Thôn Đông T, xã Ninh P, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

+ Anh Trần Văn T; sinh năm 1994; trú tại: Xóm 8, xã Khánh T, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dựa vào kết quả sổ xố kiến thiết miền Bắc mở thưởng hàng ngày, Đào Xuân Đ đã bán các số lô, số đề cho những người chơi để thu lời bất chính. Hành vi đánh bạc bằng hình thức “chơi lô, đề” được thua bằng tiền được thống nhất cách chơi như sau:

+ Đối với “số đề” có hai loại, gồm loại “02 số” và loại “03 số”, người chơi chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ (từ cặp số 00 đến cặp số 99, đối với loại “02 số” và từ cặp số 000 đến cặp số 999 đối với loại “03 số”). Giá trị mỗi cặp số mua bao nhiêu là tùy người chơi. Việc đối chiếu kết quả dựa vào hai số cuối của giải đặc biệt đối với loại “02 số” và 03 số cuối của giải đặc biệt đối với loại “03 số” của xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày; nếu cặp số của người chơi trùng với hai số, ba số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi “trúng đề”. Trong trường hợp này, Đ sẽ thanh toán cho người “trúng đề” với số tiền trúng thưởng có giá trị gấp tám mươi lần số tiền người “trúng đề” đã bỏ ra mua các cặp số đối với loại “02 số” và gấp bốn trăm lần đối với loại “03 số”. Ngược lại, nếu không “trúng đề” thì Đ được hưởng toàn bộ số tiền những người chơi đã bỏ ra mua các cặp số.

+ Đối với “số lô” gồm có “lô Hà Nội”, “ lô Ninh Bình” và “lô xiên”:

Đối với “lô” thì người chơi chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ từ cặp số 00 đến cặp số 99. Giá trị mỗi cặp số là 23.000 đồng đối với “lô Hà Nội” và 20.000 đồng đối với “ lô Ninh Bình” được tính là 01 điểm chơi. Việc đối chiếu dựa vào hai số cuối của các giải trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày; nếu cặp số của người chơi trùng khớp với hai số cuối của một hoặc các giải thưởng trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc hôm đó thì người chơi “trúng lô”. Cứ 01 điểm “số lô Hà Nội” nếu trùng khớp với một giải thì được nhận 80.000 đồng; trùng khớp hai giải thì được 160.000 đồng còn 01 điểm “số lô Ninh Bình” nếu trùng khớp với một giải thì được nhận 70.000 đồng; trùng khớp hai giải thì được 140.000 đồng. Trong trường hợp này Đ sẽ thanh toán tiền cho những người chơi trúng thưởng tại nhà của Đ. Ngược lại, nếu không có người chơi nào“trúng lô” thì Đ được hưởng toàn bộ số tiền những người chơi đã bỏ ra mua các cặp số.

“Lô xiên” gồm có “xiên 2, xiên 3, xiên 4”, khác với “lô Hà Nội”, người chơi phải lựa chọn mua hai cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 2”, ba cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 3”, bốn cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 4”, từ cặp số 00 đến 99. Giá trị mỗi cặp số mua bao nhiêu là tùy người chơi. Việc đối chiếu, thanh toán, cũng đối chiếu với hai số cuối của các giải trong bảy giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày. Nếu hai cặp số của người chơi trùng với hai số cuối của một trong các giải thưởng trong bẩy giải kết quả xổ số thì người chơi trúng “lô xiên 2”, nếu ba cặp số của người chơi trùng với ba số cuối của một trong các giải thưởng trong bẩy giải kết quả xổ số thì người chơi trúng “lô xiên 3”, nếu bốn cặp số của người chơi trùng với bốn cặp số cuối của một trong các giải thưởng trong bẩy giải kết quả xổ số thì người chơi trúng “lô xiên 4”. Trong trường hợp này, Đ sẽ thanh toán cho những người chơi trúng thưởng có giá trị gấp 10 lần số tiền người “trúng lô” đã bỏ ra mua các cặp số đối với loại “lô xiên 2”, gấp 40 lần đối với loại “lô xiên 3” và gấp gấp 100 lần đối với loại “lô xiên 4”. Ngược lại, nếu không có người chơi nào “trúng lô xiên” thì Đ được hưởng toàn bộ số tiền những người chơi đã bỏ ra mua các cặp số.

Hồi 17h 35’ ngày 29/10/2020, khi Đào Xuân Đ đang bán hàng tạp hóa ở nhà tại thôn Thông 2, xã Khánh C, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình thì có Điền Đức Đ, sinh năm 1987, trú tại thôn Đông T, xã Ninh P, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình và Trần Văn T, sinh năm 1994, trú tại xóm 8, xã Khánh T, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đến hỏi mua các số lô, số đề. Trong đó, Điền Đức Đ mua các số lô, số đề có tổng số tiền là 3.200.000 đồng, gồm: Số đề 14, 41 mỗi số 200.000 đồng; 15, 51 mỗi số 250.000 đồng; lô Hà Nội 14, 41 mỗi số 50 điểm còn Trần Văn T mua các số lô, số đề có tổng số tiền là 2.400.000 đồng gồm: số đề các số 29, 92 mỗi số 50.000 đồng; 34, 61, 32 mỗi số 100.000 đồng, lô Ninh Bình các số 92, 29 mỗi số 50 điểm. Điền Đức Đ và Trần Văn T lấy tiền để thanh toán cho Đào Xuân Đ còn Đào Xuân Đ lấy giấy ghi cáp đề. Khi Đào Xuân Đ vừa nhận 3.200.000 đồng của Điền Đức Đ, 2.400.000 đồng của Trần Văn T và đưa cáp đề cho Điền Đức Đ và Trần Văn T thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Ninh Bình phối hợp với Công an xã Khánh C, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang, thu giữ:

- Thu giữ của Điền Đức Đ 01 cáp đề là tờ giấy kích thước (8,5 x 11,5) cm bên trên có ghi các số lô, số đề mua của Đào Xuân Đ có số tiền ghi lô, đề là 3.200.000 đồng.

- Thu giữ của Trần Văn T 01 cáp đề là tờ giấy kích thước (8,5 x 11,5) cm bên trên có ghi các số lô, số đề mua của Đào Xuân Đ có số tiền ghi lô, đề là 2.400.000 đồng.

- Thu tại nơi Đào Xuân Đ ngồi 02 cáp đề là tờ giấy kích thước (8,5 x 11,5) cm bên trên có ghi các số lô, số đề của khách đi đường mua của Đào Xuân Đ có tổng số tiền ghi lô, đề là 1.260.000 đồng.

- Thu giữ của Đào Xuân Đ số tiền 6.920.000 đồng trong đó có 5.600.000 đồng tiền bán số lô, số đề cho Điền Đức Đ và Trần Văn T còn 1.320.000 đồng là tiền bán số lô, số đề cho khách đi đường không xác định được tên tuổi địa chỉ.

Do chưa có kết quả mở thưởng sổ số miền Bắc trong ngày nên tổng số tiền Đào Xuân Đ bán các số lô, số đề cho Điền Đức Đ là 3.200.000 đồng và Trần Văn T là 2.400.000 đồng, còn những số lô, số đề trong hai cáp đề thu giữ của Đào Xuân Đ là của khách đi đường không xác định được tên tuổi địa chỉ cụ thể của những người này. Như vậy, tổng số tiền Đào Xuân Đ sử dụng để đánh bạc trong ngày 29/10/2020 là 5.600.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đào Xuân Đ ở thôn Thông 2, xã Khánh C, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình thu giữ: Số tiền 14.500.000 đồng trong ngăn tủ quấn áo kê trong phòng ngủ tầng 1.

Đối với 04 cáp ghi số lô, số đề được chuyển theo hồ sơ vụ án còn số tiền 21.420.000 đồng đã thu giữ của Đào Xuân Đ trong đó có: 5.600.000 đồng là tiền bán các số lô, số đề cho Điền Đức Đ và Trần Văn T; 1.320.000 đồng là tiền bán các số lô, số đề cho khách đi đường; 14.500.000 đồng là tiền cá nhân của Đào Xuân Đ do lao động mà có được chuyển đến Chi cục thi hành dân sự huyện Yên Khánh để giải quyết cùng vụ án.

Quá trình điều tra, Đào Xuân Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKSK, ngày 11 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Đào Xuân Đ để xét xử về tội “ Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố về tội đánh bạc là đúng người đúng tội.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Đào Xuân Đ phạm tội “ Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt tiền: Bị cáo Đào Xuân Đ từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền là 5.600.000 đồng đã sử dụng vào việc đánh bạc.

+ Trả lại cho bị cáo Đào Xuân Đ số tiền là 15.820.000 đồng, đã thu giữ của bị cáo (trong đó có 14.500.000 đồng không liên quan đến vụ án, còn đối với số tiền 1.320.000 đồng, bị cáo khai là tiền bán số lô, đề cho khách đi đường, không biết tên, địa chỉ, do vậy không có căn cứ để sử lý, nên không tịch thu số tiền này). Nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì, nhận thấy hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật nên xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Yên Khánh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai tại phiên tòa của bị cáo Đào Xuân Đ đúng như nội dung của bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Đào Xuân Đ đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi “số lô”, “số đề” trái phép được thua bằng tiền và tự trả thưởng nếu người chơi trúng thưởng cụ thể:

Ngày 29/10/2020, bị cáo Đào Xuân Đ đã bán các số lô, số đề cho Điền Đức Đ với tổng số tiền mua, bán là 3.200.000 đồng và bán các số lô, số đề cho Trần Văn T với tổng số tiền là 2.400.000 đồng. Bị cáo vừa nhận số tiền của anh T và anh Đ trả thì bị Công an tỉnh Ninh Bình bắt giữ.

[3] Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc đánh bạc, bằng hình thức mua bán các cặp số lô, số đề trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[4] Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa là có căn cứ. Căn cứ vào hành vi và số tiền 5.600.000 đồng bị cáo đã thực hiện để đánh bạc thì hành vi của bị cáo đã phạm tội đánh bạc, được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ mà gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Nội dung Điều 321 tội đánh bạc của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2....

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải” và “Phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự.

[7] Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Đ có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc thấp, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên chỉ cần áp dụng hình phạt chính bằng phạt tiền là phù hợp với tính chất hành vi của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo đã được áp dụng hình phạt chính bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Điền Đức Đ và Trần Văn T đã có hành vi mua số lô, số đề trái phép của bị cáo Đ nhưng số tiền mua số lô, số đề trái phép dưới năm triệu đồng, bản thân không có tiền án về các tội đánh bạc, gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc và cũng chưa bị xử phạt hành chính về những hành vi này. Do vậy Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Điền Đức Đ và Trần Văn T về hành vi này là phù hợp.

[8] Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:

- Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền là 5.600.000 đồng là số tiền đã sử dụng để đánh bạc, trong số tiền đã thu giữ của bị cáo Đ.

- Trả lại cho bị cáo Đào Xuân Đ số tiền là 15.820.000 đồng đã thu giữ (trong đó có 14.500.000 đồng không liên quan đến vụ án và số tiền 1.320.000 đồng, bị cáo khai là tiền bán số lô, đề cho khách đi đường, không biết tên, địa chỉ, do vậy không có căn cứ để sử lý, nên không tịch thu số tiền này). Nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo: Đào Xuân Đ phạm tội “ Đánh bạc”.

Xử phạt tiền: Bị cáo Đào Xuân Đ 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền là 5.600.000 đồng (năm triệu sáu trăm nghìn đồng) đã sử dụng để đánh bạc, trong số tiền đã thu giữ của bị cáo.

+ Trả lại cho bị cáo Đào Xuân Đ số tiền là 15.820.000 đồng (mười lăm triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo do không liên quan đến vụ án. Nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Số tiền trên Công an huyện Yên Khánh đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Khánh theo giấy “ Uỷ nhiệm chi” ngày 21 /01/ 2021 tại Kho bạc Nhà nước huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Xuân Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2021/HS-ST ngày 02/02/2021 về tội đánh bạc

Số hiệu:17/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Sơn - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:02/02/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về