Bản án 17/2020/HS-ST ngày 29/04/2020 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 17/2020/HS-ST NGÀY 29/04/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29/4/2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2020/TLST-HS ngày 14/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 26/3/2020 và Thông báo số 09/TB-TA ngày 23/4/2020 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Văn B, sinh năm 1975; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ở và ĐKNKTT: Thôn 5 V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông Nguyễn Văn S và con bà Đinh Thị K; Có vợ là Đinh Thị T và có 04 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

2. Bị cáo Đinh Văn T, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ở và ĐKNKTT: Thôn 5 V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Đinh Văn T và con bà Nguyễn Thị N; Có vợ là Nguyễn Thị H và có 01 con, sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 22/02/2019 bị cáo bị Công an huyện N ra Quyết định số 46 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Chị Đinh Thị O, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn 4 V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt - có đơn xin xử vắng mặt).

Người m chứng:

- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1963.

- Chị Đinh Thị T, sinh năm 1977.

(Chị N, chị T đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 28/12/2019, Nguyễn Văn B và Đinh Văn T đang đi chăn bò trên đê Hoàng Long thuộc địa phận thôn 4 V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Lúc này Nguyễn Văn B quan sát thấy đàn gà nhà chị Đinh Thị O sinh năm 1971 ở thôn 4 V, xã T, huyện N đang thả trong sân nhà chị O ở gần đó. Nguyễn Văn B đã nảy sinh ý định trộm cắp gà nhà chị O liền nói với Đinh Văn T “Tối nay bắt mấy con gà này” - Ý B rủ T cùng đi trộm cắp gà nhà chị O thì Đinh Văn T đồng ý và nói “Tối khoảng 01 giờ thì đi”. Sau khi chăn bò xong thì B và T đi về nhà đến khoảng 01 giờ ngày 29/12/2019, Đinh Văn T đi bộ đến nhà Nguyễn Văn B đã thấy B đang đứng đợi sẵn ở cổng nhà. Nguyễn Văn B và Đinh Văn T đi bộ đến nhà chị Đinh Thị O không có cổng nên B và T đi vào trong sân. Quan sát thấy đàn gà nhà chị O đang thả rông trong sân trước cửa nhà gần giếng nước, Nguyễn Văn B và Đinh Văn T liền đi đến vị trí trước cửa bếp nhà chị O lấy 02 bao tải xác rắn màu trắng có sẵn ở đó. Sau đó Đinh Văn T cầm và giữ miệng bao tải để Nguyễn Văn B sử dụng tay bắt được 18 con gà (loại gà ta) bỏ vào trong 02 bao tải mỗi bao 09 con.

Sau khi chiếm đoạt được số gà trên thì Nguyễn Văn B đem 01 bao tải xác rắn màu trắng bên trong là 09 con gà về nhà cất giấu tại chuồng bò nhà mình còn Đinh Văn T đem 01 bao tải xác rắn màu trắng bên trong là 09 con gà về trang trại của gia đình đem thả vào lồng sắt trong chuồng gà. Sáng ngày 29/12/2019, chị O phát hiện đàn gà nhà chị O đã bị kẻ gian trộm cắp nên đã trình báo Công an xã T giải quyết vụ việc.

Quá trình xác minh, Công an xã T đã thu giữ tại trang trại của Đinh Văn T 09 con gà (loại gà ta) có tổng trọng lượng 11kg; thu giữ tại nhà của Nguyễn Văn B 09 con gà (loại gà ta) có tổng trọng lượng 10,7kg, 01 bao tải xác rắn màu trắng. Sau đó Công an xã T đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để giải quyết theo thẩm quyền. Đối với 1 bao tải xác rắn màu trắng mà Đinh Văn T lấy tại nhà chị O, sau khi về nhà Đinh Văn T đã vứt đi nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 03/KL-HĐĐG ngày 09/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: “Tổng giá trị 18 con gà ta có trọng lượng 21,7 kg được đưa ra định giá là 2.387.000 đồng”.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên; Kiểm sát viên, người bị hại, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKSNQ-HS ngày 11/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố các bị cáo Nguyễn Văn B, Đinh Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn B, Đinh Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 173; Điều 36; Các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Khấu trừ mỗi tháng từ 05% đến 07% thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành án để sung quỹ Nhà nước.

Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000đồng đến 7.000.000đồng nộp ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Đinh Văn T từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Khấu trừ mỗi tháng từ 05% đến 07% thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành án để sung quỹ Nhà nước. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000đồng đến 7.000.000đồng nộp ngân sách Nhà nước.

* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của người bị hại là chị Đinh Thị O không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự vì tài sản các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho người bị hại.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.

Lời nói sau cùng của các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố cụ thể như sau: Khoảng hơn 01 giờ ngày 29/12/2019, Nguyễn Văn B và Đinh Văn T đã lén lút, bí mật chiếm đoạt 18 con gà (loại gà ta) có tổng trọng lượng 21,7kg giá trị 2.387.000 đồng của chị Đinh Thị O ở thôn 4 V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản lấy lời khai của người bị hại, biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 03/KL-HĐĐG ngày 09/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Đã đủ cơ sở pháp lý khẳng định các bị cáo lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản nên lén lút, bí mật chiếm đoạt của chị Đinh Thị O ở thôn 4 V, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình 18 con gà (loại gà ta) có tổng trọng lượng 21,7kg giá trị 2.387.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 thì: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong vụ án này, hành vi phạm tội của các bị cáo mặc dù không có tính chất tổ chức, hình thức phạm tội là đồng phạm giản đơn. Nhưng trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo. Cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, nhân thân các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thấy:

Đi với Nguyễn Văn B là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là việc làm mà pháp luật không cho phép xong bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người rủ rê bị cáo Đinh Văn T đồng thời cũng là người thực hành tích cực trực tiếp bắt 18 con gà bỏ vào 02 bao tải xác rắn. Do vậy, bị cáo B chịu trách nhiệm với vai trò thứ nhất trong vụ án.

Đi với bị cáo Đinh Văn T khi được bị cáo B rủ vào nhà chị O để bắt gà bị cáo đã không từ chối mà hưởng ứng ngay và đồng thời thực hành một cách tích cực. Bị cáo là người trực tiếp giữ bao bì để bị cáo B bắt gà bỏ vào bao nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò thứ hai trong vụ án. Mặt khác, ngày 22/02/2019 bị cáo bị Công an huyện N ra Quyết định số 46 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cải tạo và rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội.

Hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản của các bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi này đã gây nên sự bất an cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Xong xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản bị cáo đã chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Từ phân tích trên xét các bị cáo Nguyễn Văn B, Đinh Văn T có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thi hành án. Khấu trừ mỗi tháng 07% thu nhập của các bị cáo trong thời gian chấp hành án và áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền để sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

[3]. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 18 con gà (loại gà ta) có tổng trọng lượng 21,7kg, 01 bao tải xác rắn màu trắng là tài sản hợp pháp của chị Đinh Thị O. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chị Đinh Thị O là phù hợp.

- Đối với 01 chiếc bao tải xác rắn màu trắng mà Đinh Văn T lấy tại nhà chị O đã vứt đi do không có giá trị nên chị O không yêu cầu Tương bồi thường.

[4]. Về trách nhiệm dân sự:

- Ghi nhận sự tự nguyện của người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào vì đã nhận lại được tài sản bị cáo đã chiếm đoạt và chiếc bao tải xác rắn mầu trắng bị cáo T đã vứt đi không còn giá trị.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn B, Đinh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 173; Điều 36; Các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn B 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Khấu trừ mỗi tháng 07% thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành án để sung quỹ Nhà nước.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn B 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Đinh Văn T 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Khấu trừ mỗi tháng 07% thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành án để sung quỹ Nhà nước.

Phạt bổ sung bị cáo Đinh Văn T 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

2.Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự tự nguyện của người bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền nào khác.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo Nguyễn Văn B, Đinh Văn T mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2020/HS-ST ngày 29/04/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:17/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về