Bản án 17/2019/HS-ST ngày 16/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 16/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16/8/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2019/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Văn Kh, sinh ngày 06/3/1994; tại: xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Nơi cư trú: xóm Cả, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Mường; Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động phổ thông. Con ông: Bùi Văn Th, sinh năm 1966 và bà Trương Thị V, sinh năm 1965. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có hai anh chị em; Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: không.

Hiện bị cáo Bùi Văn Kh đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (theo Lệnh tạm giam số 108 ngày 10/5/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”), nay trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: ông Bùi Văn Th, sinh năm 1966; Nơi cư trú: xóm Cả, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1992; Nơi cư trú: số nhà 65, phố Đoàn Kết, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Người làm chứng: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dó có ý định muốn chiếm đoạt tài sản từ trước nên vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/02/2019, lợi dụng cả gia đình đi làm hết, không có ai ở nhà Khôi quan sát và phát hiện thấy chiếc xe mô tô BKS: 28FZ-061.37 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Bùi Văn Th, sinh năm 1966 là bố đẻ của Khôi đang dựng ở dưới gầm nhà sàn, còn chìa khóa xe treo ở cột nhà, Khôi liền lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô nêu trên đem đến cầm cố tại cửa hàng kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tấn Phát có địa chỉ tại số nhà 65, phố Đoàn Kết, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình do chị Nguyễn Thị Kiều O làm chủ. Tại đây, do Bùi Văn Kh quen biết chị Oanh từ trước nên Khôi đã hỏi vay chị Oanh số tiền 2.000.000đ và để xe máy lại để làm tin không hẹn ngày đến lấy và được chị Oanh đồng ý. Cầm được số tiền 2.000.000đ, Khôi đã bỏ trốn khỏi địa phương lên tỉnh Bắc Ninh và tiêu sài cá nhân hết. Ngày 20/02/2019, ông Bùi Văn Th đã có đơn trình báo về việc gia đình bị kẻ gian trộm cắp chiếc xe mô tô nêu trên.

Ngày 27/3/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn đã ra Quyết định định giá tài sản số 12, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Lạc Sơn, định giá tài sản mà Bùi Văn Kh trộm cắp ngày 19/2/2019. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 13/ĐG-HĐĐG ngày 22/4/2019 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân huyện Lạc Sơn kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại 50C1-1, biển kểm soát 28FZ- 061.37, màu sơn xanh, xe mua mới và sử dụng ngày 26/4/2018 đến nay, giá trị còn lại là 6.000.000đ.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 28FZ- 061.37. Quá trình điều tra, Công an huyện Lạc Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Bùi Văn Th.

Đi với chị Nguyễn Thị Kiều O chủ cửa hàng kinh doanh dịch vụ cầm đồ Tấn Phát có giấy phép kinh doanh theo quy định, việc Bùi Văn Kh đến cầm cố tài sản là chiếc xe máy biển kiểm soát 28FZ- 061.37, trong hợp đồng chỉ thể hiện Khôi có vay của chị Oanh số tiền 2.000.000đ không thể hiện việc cầm cố chiếc xe nêu trên; chị Oanh cũng không biết chiếc xe nêu trên do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn không đề cập xử lý.

Về phần dân sự: Người bị hại là ông Bùi Văn Th đã nhận được lại tài sản; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Kiều O đã được gia đình bị can trả số tiền 2.000.000đ. Nay người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Bùi Văn Kh đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai hoàn toàn phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 08/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn Kh về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi vị đại diện Viện Kiểm sát công bố bản luận tội. Nội dung bản luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Bùi Văn Kh từ 09 đến 12 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo do không có tính khả thi.

Vật chứng của vụ án: Không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Đi với chị Nguyễn Thị Kiều O, do chị Oanh cũng không biết chiếc xe nêu trên do trộm cắp mà có nên đề nghị HĐXX không đề cập xem xét.

Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố, nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát.

Bị cáo không nói lời sau cùng.

Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả thẩm vấn và tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạc Sơn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đi với người tham gia tố tụng là bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/2/2019, bị cáo Bùi Văn Kh đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản, không có người trông coi quản lý tài sản, Khôi đã lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 28FZ- 061.37 trị giá 6.000.000đ của gia đình ông Bùi Văn Th. Bùi Văn Kh là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của Bùi Văn Kh phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố bị cáo Bùi Văn Kh về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bùi Văn Kh là bị cáo có tuổi đời còn rất trẻ, nhưng chây lười lao động. Để có tiền tiêu xài cá nhân, Khôi đã trộm cắp xe mô tô của chính bố đẻ mình. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, không những gây thiệt hại về tài sản mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả do hành vi của mình gây ra.

[4]. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét về nhân thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, sinh ra và lớn lên làm ăn tại địa phương, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo không chịu tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

[5]. Về mức hình phạt: HĐXX xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để dăn đe giáo dục đối với bị cáo Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, xử phạt bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Trong vụ án này, chị Nguyễn Thị Kiều O là người đã cho Khôi vay với số tiền 2.000.000 đồng. Do chị Oanh không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô đó là do Khôi trộm cắp mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa cũng cần nhắc nhở rút kinh nghiệm chung trong công tác phòng chống tội phạm.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Bùi Văn Th chiếc xe mô tô BKS 28FZ-061.37.

Đây là tài sản thuộc sở hữu của ông Thuận. Sau khi nhận lại tài sản, ông Thuận không có ý kiến gì và việc xử lý vật chứng nêu trên của cơ quan điều tra đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[11]. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015

1. Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản” Xử phạt bị cáo Bùi Văn Kh 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án đối với bị cáo theo bản án này.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết 326/NQ-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí tòa án. Bị cáo Bùi Văn Kh phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-ST ngày 16/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:17/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lạc Sơn - Hoà Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về