Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 30 tháng 5 năm 2019 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2019, quyết định hoãn phiên tòa số 17/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm: 1993, trú: khu phố X, phường M, thành phố P (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm: 1978, trú: khu phố Y, phường M, thành phố P (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bà Nguyễn Thị Ng và ông Lê Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 8x ngày 01/8/2012 tại UBND xã Xã L, huyện M, tỉnh Thanh Hóa.

Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Ng - trình bày:

Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại phường M, thành phố P. Do trong quá trình chung sống, ông Kthường chơi cờ bạc phá tán tài sản gia đình, cuộc sống không hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng bà có một con chung tên là Lê M, sinh ngày: 21/8/2013. Khi vợ chồng ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Bà làm ở chi nhánh Công ty Hacom, lương mỗi tháng khỏang 9.500.000 đồng, bao gồm lương cứng là 8.000.000 đồng và 1.500.000 đồng phụ cấp. Bà làm trong giờ hành chính nên có nhiều thời gian chăm sóc con, ngoài ra mẹ và các em bà ở chung nhà cùng phụ giúp bà chăm sóc con.

Về tài sản chung và nợ chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn- Ông Lê Văn K- trình bày tại Biên bản hòa giải:

Vì vợ chồng ông có con chung còn nhỏ, phải nuôi dưỡng cháu, nên ông không đồng ý ly hôn. Ông thỉnh thoảng có chơi bài, chứ không có đam mê, ông thừa nhận có nợ do chơi bài, theo ông vợ chồng chỉ có mâu thuẫn do ông ham chơi, chứ không có mâu thuẫn gì khác. Các chứng cứ chứng minh bà Ngtrả nợ, thì tiền là do cha mẹ ông cho ông để trả nợ, bà Ngchỉ là người trả giùm cho cha mẹ ông.

Về con chung: Ông không đồng ý để bà Ng trực tiếp nuôi con, ông đề nghị được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bà Ng cấp dưỡng nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Ông có lương tháng khoảng 8.500.000 đồng. Một tháng ông trực một tuần tại cơ quan không về nhà, 3 tuần còn lại thì làm theo giờ hành chính. Ông được nghỉ thứ 7 và chủ nhật. Ở đây ông không có người thân nào khác ngoài bà Ng.

Trong quá trình Tòa án giải quyết, bà Nguyễn Thị Ng nộp các chứng cứ chứng minh gia đình ông K trả nợ thay cho ông. Ông K thừa nhận các chứng cứ này là đúng. Ngoài ra bà Ng nộp Đơn chứng minh mức thu nhập được nơi làm việc xác nhận. Ông K không nộp chứng cứ chứng minh về thu nhập.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện cuả nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Nguyễn Thị Ng và ông Lê Văn K có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 8x ngày 01/8/2012 tại Uỷ ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Đây là hôn nhân hợp pháp.Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Ng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Riêng ông K vắng mặt, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho ông K hoàn toàn hợp lệ.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Trong quá trình chung sống ông K có tham gia chơi cờ bạc gây nợ, gia đình ông đã nhờ bà Ngtrả nợ thay, ông K thừa nhận sự việc, bà Ng kiên quyết xin ly hôn vì tình trạng cờ bạc nợ nần đã kéo dài và ông K không sửa đổi. Vì vậy căn cứ vào điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nga.

[3] Về quan hệ con chung: Bà Ng làm việc giờ hành chính, có thời gian chăm sóc con, có người phụ giúp bà nuôi dưỡng con, thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Ng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê M, sinh ngày 21/8/2013 là chính đáng, vì bà có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, nên chấp nhận. Ông K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Ng không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do bà Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, “trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu”, do đó bà Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, khoản 4 điều 147, điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 56, điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn ông Lê Văn K.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Ng có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê M, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2013. Ông K không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Ngkhông yêu cầu.

Sau khi ly hôn, ông K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu ông K lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Ng có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của họ.

Về án phí:

Bà Ng phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0018171 ngày 10 tháng 01 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố P. Bà Ng đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.


82
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 30/05/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 30/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về