Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1969.

Địa chỉ: ĐT, phường A, thành phố ĐL, tỉnh Lâm Đồng.

Ông Đ có đơn xin vắng mặt đề ngày 04/3/2019.

* Bị đơn: Bà La Thị L, sinh năm 1980.

Địa chỉ: tổ B, khu phố BN, Phường C, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và đơn xin vắng mặt cùng đề ngày 04/3/2019 nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Giữa ông và bà La Thị L tự nguyện tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và đã được Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố BT cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 30/10/2008. Sau khi cưới cuộc sống không có hạnh phúc. Năm 2009 đã xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung và ông bà sống ly thân từ đó đến nay. Do tình trạng hôn nhân không thể cứu vãn được nên ông yêu cầu Tòa giải quyết cho ông được ly hôn với bà La Thị L. Ông Đ yêu cầu được giải quyết vắng mặt nguyên nhân do đang đi làm xa.

Về con chung có Nguyễn Hoàng Gia H, sinh ngày 01/10/2008, hiện đang sống với bà L. Khi ly hôn ông đồng ý để bà L tiếp tục nuôi con, ông không cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại bảng tự khai và tại phiên tòa lời trình bày của bị đơn bà La Thị L hoàn toàn trùng khớp với lời trình bày của ông Đ về thời điểm kết hôn, tình trạng hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung của ông bà. Bà đồng ý ly hôn với ông Đ. Đồng ý nuôi Nguyễn Hoàng Gia H, sinh ngày 01/10/2008 và tự nguyện không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa và của người tham gia tố tụng là đúng với quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.

XÉT THẤY

[1] Ông Nguyễn Văn Đ và bà La Thị L tự nguyện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố Bến Tre cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2008 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do bà L cư trú trên địa bàn thành phố BT nên Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre thụ lý giải quyết vụ kiện “Xin ly hôn” nêu trên là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Tại phiên tòa, bà L đồng ý ly hôn với ông Đ vì bà cho rằng quan hệ hôn nhân của ông bà không thể cải thiện được. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh thì được biết ông Đ và bà L đã ly thân nhau cách nay hơn 10 năm, trong thời gian ly thân ông Đ không về thăm vợ con cũng như không chu cấp tiền để bà L nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông Đ, bà L thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài vì thời gian ly thân đã quá lâu, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Đ.

[3] Về con chung: cháu Nguyễn Hoàng Gia H, sinh ngày 01/10/2008 muốn được tiếp tục sống cùng với mẹ. Ý kiến của cháu H cũng phù hợp với ý kiến của ông Đ và bà L nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho là L được quyền nuôi con chung. Ghi nhận việc bà L tự nguyện không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: các bên cùng khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[6] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Đ phải nộp theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà La Thị L.

2. Về con chung: bà La Thị L được quyền nuôi Nguyễn Hoàng Gia H, sinh ngày 01/10/2008.

Ghi nhận việc bà L tự nguyện không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Ông Đ được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con

3. Về tài sản chung và nợ chung: hai bên cùng khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: ông Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001031 ngày 25 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố BT. Ông Nguyễn Văn Đ đã nộp đủ án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về