Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 24/07/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/07/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở TAND huyện Phú Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/ 2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2019 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXX-ST ngày 27 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2019/QĐST-DS ngày 10/7/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1979

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1988

Đều có HKTT: Thôn Y, xã Y, huyện X, Thành phố Hà Nội.

Anh Tr có mặt, chị Ch vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và những lời khai tại Toà, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Tr trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Ch tự nguyện kết hôn vào ngày 30/11/2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Sau khi cưới, hai anh, chị về chung sống với nhau ngay tại gia đình anh Tr ở thôn Thượng Yên, xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên. Quan hệ vợ chồng hạnh phúc được khoảng 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2017 cho đến nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, anh đề nghị được ly hôn chị Ch.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/10/2012, cháu Nguyễn Quang V, sinh ngày 15/01/2015. Ly hôn anh Trung xin được nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu chị Chín phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về phía bị đơn, chị Nguyễn Thị Ch trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Chín xác nhận, chị và anh Tr tự nguyện kết hôn từ năm 2011. Quá trình chung sống được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh Tr ngoại tình. Nay anh Tr xin ly hôn chị không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Chị Ch xác nhận, vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/10/2012, cháu Nguyễn Quang V, sinh ngày 15/01/2015. Ly hôn chị Ch xin được nuôi cháu Nguyễn Quang V, không yêu cầu anh Trung phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết

- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại phiên toà: Anh Trung giữ nguyên yêu cầu của mình.

Đại diện VKSND huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Tr; giao cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/10/2012 cho anh Trung trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Quang V, sinh ngày 15/01/2015 cho chị Ch trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm miễn việc góp phí tổn nuôi con chung cho anh Tr, chị C đến khi nào anh Tr, chị Ch có yêu cầu hoăc có sự thay đổi theo quy của pháp luật và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng do các bên không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng chị Nguyễn Thị Ch vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Tr và chị Nguyễn Thị Ch tự nguyện kết hôn ngày 30/11/2011, bằng việc đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống với nhau ngay tại gia đình anh Tr. Quan hệ vợ chồng hạnh phúc được khoảng 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Quá trình giải quyết vụ án, chị Ch không đồng ý ly hôn với lý do anh Tr ngoại tình. Tòa án đã yêu cầu chị Ch cung cấp tài liệu, chứng cứ về anh Tr ngoại tình, nhưng chị Chín không cung cấp; mặt khác, khi Tòa án triệu tập để hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ, thì chị Ch không tham gia đầy đủ các phiên hòa giải, không chứng minh cho thiện chí thực sự mong muốn được hàn gắn hôn nhân. Xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương cũng xác nhận, mâu thuẫn giữa các bên là không thể hàn gắn và trên thực tế quan hệ hôn nhân đã thực sự chấm dứt nhiều năm nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Trung và chị Ch đã thực sự trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Tr và xử cho anh Tr được ly hôn với chị Nguyễn Thị Ch.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/10/2012, cháu Nguyễn Quang V, sinh ngày 15/01/2015. Anh Tr xin được nuôi nuôi cả hai con chung cháu T, cháu V, trường hợp chị Ch xin được nuôi cháu V thì anh Tr cũng đồng ý, chị Ch xin được nuôi cháu V; nên Hội đồng xét xử quyết định giao mỗi người nuôi dưỡng, chăm sóc một cháu, vừa đảm bảo cho sự phát triển bình thường của các cháu và bảo đảm quyền về nuôi con của vợ chồng khi ly hôn. Giao anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Anh T, giao chị Ch trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quang V là phù hợp với quy định của Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Anh Tr, chị Ch đều không yêu cầu các bên phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Sự tự nguyện của các bên là phù hợp với pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận và tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tr, chị Ch đến khi anh Tr, chị Ch có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

Về Tài sản chung vợ chồng: Anh Nguyễn Văn Tr và chị Nguyễn Thị Ch đều không đề nghị Toà xét. Toà không xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn Tr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn Tr được ly hôn chị Nguyễn Thị Ch.

2. Về con chung: Giao anh Nguyễn Văn Tr trực tiếp nuôi dưỡng cháu cháu Nguyễn Anh T, sinh ngày 01/10/2012; giao chị Nguyễn Thị Ch trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quang V, sinh ngày 15/01/2015. Tạm miễn việc góp phí tổn nuôi con cho anh Tr, chị Ch đến khi anh Tr, chị Ch có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Tr, chị Ch đều có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Tr phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số AE/2010/0005336 ngày 08/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Anh Tr đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 24/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Xuyên - Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 24/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về