Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 24/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/05/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2019 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim Q.

Địa chỉ: Số nhà x, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Đoàn Văn T.

Địa chỉ: Số nhà x, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 02 năm 2019 cũng như tại Phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Trần Thị Kim Q trình bày:

Bà Trần Thị Kim Q và ông Đoàn Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 13 tháng 3 năm 1997, đến ngày 19 tháng 4 năm 1997 ông, bà tổ chức lễ cưới, là hôn nhân tự nguyện. Bà Q và ông T chung sống hạnh phúc cho đến ngày 30 tháng 4 năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T uống rượu rồi đánh vợ con, dẫn đến gia đình không còn hạnh phúc. Bà Q và ông T không chung sống với nhau từ ngày 30 tháng 4 năm 2014 đến nay. Bà Q không còn tình cảm vợ chồng với ông T nữa, nếu chung sống cũng không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Bà Q với ông T có hai người con chung tên Đoàn Thị Kiều N, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1997 và Đoàn Anh D, sinh ngày 17 tháng 01 năm 2001. Các con chung đã trưởng thành nên bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Q và ông T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn: Ông Đoàn Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia tố tụng, nhưng ông T đều vắng mặt không lý do, cũng không nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ và văn bản ghi ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q.

3. Ý kiến của Kiểm sát viên:

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; về nội dung thì cho rằng có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; các đương sự không yêu cầu giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung, nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật; về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn, do bị đơn có nơi cư trú tại ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, nên đây là vụ án ly hôn và việc Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Đoàn Văn T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ hai lần, nhưng đều vắng mặt và không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và việc vắng mặt này không gây khó khăn, ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào giấy Chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp, thì bà Q và ông T đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào ngày 13 tháng 3 năm 1997. Tòa án đã thông báo và triệu tập các đương sự tham gia hòa giải, nhưng ông T đều vắng mặt không lý do; tại phiên tòa bà Q vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, vì cho rằng bà không còn tình cảm với ông T, nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc; ông, bà không còn sống chung với nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Q với ông T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q.

[2.2] Về con chung: Bà Q với ông T có hai con chung là Đoàn Thị Kiều N, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1997 và Đoàn Anh D, sinh ngày 17 tháng 01 năm 2001. Các con chung đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm: Bà Q là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Trần Thị Kim Q được ly hôn với bị đơn ông Đoàn Văn T.

2. Về con chung tên Đoàn Thị Kiều N, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1997 và Đoàn Anh D, sinh ngày 17 tháng 01 năm 2001, đều đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Kim Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003610 ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Bà Q đã nộp xong án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 24/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Tú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 24/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về