Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 08/5/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2019/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐSXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số:11/2019/QĐST- HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện X, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã C, huyện X, tỉnh Thái Bình.

3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1967 ( mẹ đẻ của ch H)

Đều cư trú: Thôn B, xã C, huyện X, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Văn K trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện X vào ngày 17/3/2008. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị H sống không chung thủy, chị H về nhà bố mẹ đẻ sống ly thân với anh từ đó, nhiều lần anh xuống tìm gọi nhưng chị H không về nên anh chị không còn liên lạc với nhau. Anh không còn tình cảm với ch H, không trở về đoàn tụ với nhau được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn.

Về con chung: Anh và chị H không có con chung.

Về tài sản và nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến làm việc, cũng không gửi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh K.

Bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị H trình bày: Ch H và anh K sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2015 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh chị không có con và bất đồng về cách sống thường xuyên xảy tranh cãi nhau. Ch H về nhà bà ở sống ly thân với anh K từ đó, anh K có đến tìm gọi nhưng chị không về. Ch H đi làm thuê tại thành phố Hà Nội thỉnh thoảng có về nhà, bà nhận thay ch H các văn bản của Tòa án gửi và thông báo lại nội dung cho ch H biết, chị nhất trí ly hôn theo yêu cầu của anh K; anh K và ch H không có con chung, không có tài sản chung, không vay nợ chung.

Kết quả xác minh tại UBND xã C, huyện X thể hiện: Sau khi kết hôn anh K- chị H chung sống hạnh phúc đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh chị kết hôn đã lâu nhưng không có con, chị H về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó, hiện đang đi lao động tự do tại TP Hà Nội thỉnh thoảng có về nhà. Anh K và chị H không có con chung, tài sản chung.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương phát biểu quan điểm:

Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Văn K được ly hôn chị Nguyễn Thị H; về con chung không có; về tài sản chung không giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Anh Nguyễn Văn K khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị H, có nơi cư trú tại xã Vũ Công, huyện Kiến Xương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

[4] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn K và chị Nguyễn Thị H tự nguyện kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện X là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do không có con và bất đồng về tính cách, đã sống ly thân nhiều năm, hai người không còn quan tâm đến nhau. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của anh K xử cho anh được ly hôn ch H là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về quan hệ con chung: Anh K và chị H không có con chung.

[6] Về quan hệ tài sản chung: Anh K khai không có, Tòa án không ghi được lời khai của chị H nên về quan hệ tài sản chung không giải quyết trong vụ án này.

[7] Về án phí: Anh Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn K được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

2. Về quan hệ con chung: Anh K và chị H không có.

3. Về quan hệ tài sản chung: không giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh K đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001264 ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, Anh K đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn K có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 08/5/2019, chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


67
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Xương - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:08/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về