Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG - CAO BẰNG

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/08/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 02 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2019/TLST-HNGĐ ngày 21/5/2019 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2019/QĐXXHNGĐ - ST ngày 19 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị X.

Nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Mã Văn H.

Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Hiện nay đang chấp hành án tại Đội x, phân trại số xx, Trại giam Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 20/5/2019 và các lời khai tiếp theo tại Tòa, nguyên đơn Hoàng Thị X trình bày: Chị và anh Mã Văn H tổ chức cưới vào năm 2011, sau đó tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng ngày 08/12/2011, việc đăng ký là tự nguyện. Sau kết hôn, chị về sống cùng chồng tại xóm M, huyện H, Cao Bằng. Đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng không có tiếng nói chung, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và không thể hàn gắn. Vì vậy giữa chị và anh H đã lý thân từ năm 2015, đến năm 2016 thì anh H vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nay đang chấp hành án tại Đội x, phân trại số xx, Trại giam Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Từ ngày chồng đi tù, chị cũng chưa xuống thăm chồng lần nào. Do không còn tình cảm với nhau, nên chị X yêu cầu được ly hôn anh H. Giữa chị và anh H không có con chung, tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/5/2019, bị đơn Mã Văn H xác nhận các vấn đề về tình cảm, nguyên nhân mâu thuẫn, con cái, tài sản, nợ chung như chị X trình bày là đúng. Nay anh nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị X và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa:

Chị X giữ nguyên yêu cầu ly hôn anh H, các vấn đề khác không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo và chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị cho chị X được ly hôn anh H; Chị X phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thẩm quyền: Bị đơn Mã Văn H có hộ khẩu thường trú và trước khi bị bắt tạm giam thì cư trú tại: Xóm N, xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.

[2]. Về tố tụng: Bị đơn Mã Văn H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy đã có lời khai trong hồ sơ và việc vắng mặt của bị đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3]. Về quan hệ tranh chấp: Chị Hoàng Thị X yêu cầu được ly hôn anh Mã Văn H, các vấn đề khác không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đây là quan hệ ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tung dân sự.

[4]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị X và anh Mã Văn H đăng ký kết hôn ngày 08/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Việc đăng ký là tự nguyện, đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Như vậy việc kết hôn giữa chị X và anh H là hợp pháp và quan hệ vợ chồng được công nhận từ ngày đi đăng ký kết hôn.

Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng bất đồng quan điểm nên cuộc sống không được hòa thuận, hạnh phúc; anh H không chịu tu chí làm ăn, lười lao động và dính vào tệ nạn xã hội là sử dụng ma túy, sau đó vi phạm pháp luật bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hiện nay đang trong thời gian chấp hành án tại Đội x, phân trại số xx, Trại giam Q, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Từ ngày anh H đi trại, chị X cũng không xuống thăm hỏi lần nào, hai vợ chồng không có trách nhiệm gì với nhau nữa. Mặt khác, tại biên bản lấy lời khai ngày 31/5/2019, anh H cũng nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị X. Từ những phân tích, nhận định trên đây, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị X và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị X là có căn cứ nên cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[5]. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6]. Về án phí: Chị X phải chịu 300.000đ tiền án phí sơ thẩm Hôn nhân gia đình để sung quỹ Nhà nước. Xác nhận chị X đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị X được ly hôn anh Mã Văn H.

2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí: Chị X phải chịu 300.000đ tiền án phí sơ thẩm Hôn nhân gia đình để sung quỹ Nhà nước, xác nhận chị X đã nộp đủ.

Chị X có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt Bản án hợp lệ./.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hạ Lang - Cao Bằng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về