Bản án 17/2018/HNGĐ-ST ngày 12/03/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 17/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/03/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 12 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 538/2017/TLST–HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2018/QĐXXST – HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số:12/2018/QĐST-HNGĐ  ngày 12 tháng 02 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị K, sinh năm 1970. (Có mặt)

Nơi cư trú: số 228B/2B, đường T, khóm 3, phường B, Tp. L, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1972. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: số 228B/2B, đường T, khóm 3, phường B, Tp. L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/9/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Tiến V do quen biết sau đó tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 21/12/1999 tại UBND phường Bình Khánh, Tp. Long Xuyên, tỉnh An Giang. Hôn nhân lần thứ nhất của cả hai.

Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2004 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh V thích sống tự do không muốn ràng buộc gia đình, thường đi chơi qua đêm và gây ra nhiều nợ, chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh V vẫn không sửa đổi. Nay nhận thấy đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án được ly hôn với anh V

- Về quan hệ con chung: Chị và anh V có 01 (một) con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/5/2002. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Tiến V không có văn bản trình bày ý kiến.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên có ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa: Thẩm phán và Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các trình tự theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị K.

+ Về quan hệ con chung: Để con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/5/2002 cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và anh V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị K không có yêu cầu.

+ Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Tiến V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tiến V.

[2] Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Tiến V và chị Nguyễn Thị K kết hôn lần thứ nhất trên cơ sở tự nguyện vào năm 1999, có đăng ký kết hôn ngày 21/12/1999 tại UBND phường Bình Khánh, thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang, nên được pháp luật công nhận là vợ chồng theo qui định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nay vợ chồng chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Tiến V phát sinh mâu thuẫn, chị K xin ly hôn nên Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp các qui định của pháp luật tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Qua trình bày của các đương sự về thời gian chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng, Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình chung sống chị K và anh V có phát sinh mâu thuẫn năm 2004, nguyên nhân anh V thích sống tự do không muốn ràng buộc gia đình, thường đi chơi và đánh bạc, cá độ bóng đá gây ra nợ phải bán tài sản trả nợ; anh chị đã ly thân khoảng 01 năm. Tại phiên tòa hôm nay, chị K vẫn kiên quyết xin ly hôn vì không còn tình cảm vợ chồng với anh V; chị đã nhiều lần trao đổi và khuyên anh V sửa đổi, nhưng sau đó mọi việc vẫn vậy. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, anh V không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của chị K để vợ chồng hàn gắn. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K.

[3] Về quan hệ con chung: Chị K trình bày, chị và anh V có một con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/5/2002. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy, con chung hiện do chị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; chị K có công việc và có thu nhập ổn định. Đồng thời, cháu D cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ (Tờ trình bày ý kiến nguyện vọng con chung ngày 22/10/2017). Do đó, xét về quyền lợi mọi mặt của con chung và để ổn định về sinh hoạt, mặt tâm lý cho con chung, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là có cơ sở chấp nhận. Do chị K không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Chị Nguyễn Thị K phải tạo điều kiện cho anh Nguyễn Tiến V thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

[4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị K phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018671 ngày 12/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Tp.Long Xuyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử vắng mặt anh Nguyễn Tiến V.

Tuyên xử:

 [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Tiến V.

[2] Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Tiến V có một con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/5/2002.

Chị Nguyễn Thị K được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Tiến D, sinh ngày 17/5/2002.

Anh Nguyễn Tiến V không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nguyễn Thị K không có yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị K phải tạo điều kiện cho anh Nguyễn Tiến V thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc nuôi con không cố định.

[3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

 [4] Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị K phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018671ngày 12/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Tp.Long Xuyên.

 [5] Chị Nguyễn Thị K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Tiến V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2018/HNGĐ-ST ngày 12/03/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:17/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về