Bản án 167/2019/HSST ngày 22/07/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 167/2019/HSST NGÀY 22/07/2019 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 22/7/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố NT, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 225/2019/TLST-HS ngày 05/6/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2019/QĐXXST-HS ngày 04/7/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: HOÀNG ĐÌNH H Sinh năm: 1980, tại NA Nơi ĐKNKTT: Đội 2, xã Thuận Sơn, huyện ĐL, tỉnh NA. Chỗ ở: Tổ 20 Hòn Nghê, xã VN, NT, Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do Trình độ học vấn: Không biết chữ Con ông: Hoàng Đình N và bà: Nguyễn Thị C Vợ: Hoàng Thị Đ, sinh: 1982. Có 02 con, sinh năm 2007 và năm 2016 Tiền sự: Không Tiền án: Bản án số 219/2008/HSST ngày 13/11/2008 của Tòa án nhân dân huyện TB, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2009 (Chưa nộp án phí hình sự).

Nhân thân: Bản án số 62/2003/HSST ngày 07/01/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/5/2005.

Bị bắt, tạm giam ngày 16/10/2018.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Ông Trần Minh H và bà Nguyễn Thị U

Địa chỉ: Tổ 20, Hòn Nghê, VN, NT, Khánh Hòa. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị Đ

Địa chỉ: Tổ 20, Hòn Nghê, VN, NT, Khánh Hòa. Có mặt.

* Người làm chứng:

1/ Bà Trần Thị Cẩm L.

Đa chỉ: Tổ 19, Trường Phúc, VP, NT, Khánh Hòa. Vắng.

2/ Ông Nguyễn Thanh V.

Đa chỉ: Tổ 35, Sơn Hải, VT, NT, Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong cuối tháng 9 năm 2018, Hoàng Đình H nghe và biết thông tin chồng của chị Nguyễn Thị U (tên gọi khác: Út, sinh năm 1992) là Trần Minh H (sinh năm: 1990, cùng cư trú tại Tổ 20 Hòn Nghê 2, xã VN, thành phố NT) bị bắt về hành vi liên quan đến ma túy. Do cần tiền tiêu xài, H nảy sinh ý định giả làm cán bộ Cảnh sát hình sự - Công an thành phố NT được phân công tiến hành điều tra vụ án hình sự Trần Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” để yêu cầu gia đình H đưa tiền lo giảm nhẹ tội cho H nhằm chiếm đoạt. H hỏi thăm những người xung quanh khu vực nhà Hoàng và có được số điện thoại di động của chị U.

Sau khi có được số điện di động của chị U, sáng ngày 12/10/2018, H gọi điện thoại cho chị U và tự xưng tên Hoàng Sơn, cán bộ Cảnh sát hình sự - Công an thành phố NT đang được phân công giải quyết vụ án Trần Minh H và nói sẽ lo giảm nhẹ tội cho H từ “khoản 3” xuống “khoản 1” của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với số tiền là 200.000.000 đồng, nếu không được sẽ trả lại. Do không am hiểu pháp luật và không biết chữ nên chị U nhờ chị Trần Thị Cẩm L (bạn bè ngoài xã hội) liên hệ làm việc với H lo giảm nhẹ tội cho Hoàng. Sau đó hai bên thường liên lạc với nhau.

Ti ngày 15/10/2018, H hẹn gặp chị U tại quán cà phê Hòn Chồng View, số 06 đường Phạm Văn Đồng, VP, NT nhưng chị U không trực tiếp gặp mà nhờ chị L đến gặp H để bàn bạc việc giúp H nhẹ tội, còn chị U ngồi bàn bên cạnh để quan sát. Tại đây, H bịa đặt, đưa ra nhiều thông tin giả để cho chị L tin tưởng và yêu cầu chị L nói lại với U phải đưa tiền trước khi chuyển hồ sơ qua Viện kiểm sát với tổng số tiền 200.000.000 đồng để H đưa cho Thủ trưởng. H yêu cầu đưa trước 50.000.000 đồng vào ngày 16/10/2018, số tiền còn lại 150.000.000 đồng sẽ đưa cho H vào thứ hai tuần tiếp theo, chị L đồng ý.

Do nghi ngờ H không phải là cán bộ Công an và đang lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của mình nên chị U đã đến Công an thành phố NT trình báo sự việc.

Đến ngày hẹn, khoảng 10 giờ 00 phút ngày 16/10/2018, chị U và chị L đến quán cà phê Hòn Chồng View gặp và giao cho H số tiền 50.000.000 đồng. Tại đây, Hùng xin thêm 5.000.000 đồng để lo tiền “chi phí ăn nhậu với Thủ trưởng”, chị U đồng ý, đồng thời yêu cầu H viết giấy nhận tiền nhưng do không biết chữ nên H yêu cầu chị L viết và H ký tên với nội dung: “Tôi là Hoàng Sơn nhận số tiền 50.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị U với lý do giúp bà… lo việc của chồng bà đang bị tạm giam tại Trại Gà, thành phố NT. bị bắt về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy bị bắt ngày 23/9/2018. Trong thời gian tôi Hoàng Sơn đứng ra lo việc chạy án… trong vòng hai tháng đến hai tháng 15 ngày, nếu không hoàn thành tôi xin đền lại số tiền mà tôi đã nhận… và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.

Khi H đang nhận số tiền 55.000.000 đồng từ chị U, chuẩn bị cất vào túi áo thì Cảnh sát hình sự - Công an thành phố NT bắt quả tang và đưa về trụ sở làm việc cùng tang vật.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố NT, Hoàng Đình H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản cáo trạng số 179/CT-VKS ngày 04/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT đã truy tố bị cáo Hoàng Đình H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Khi biết chồng của bà Nguyễn Thị U (Út) bị bắt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo nẩy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của gia đình bà U. Sau khi dò hỏi, biết được số điện thoại, bị cáo đã tự xưng là Cảnh sát hình sự, Công an thành phố NT điện thoại cho bà Nguyễn Thị U đề nghị chi tiền để lo giảm nhẹ tội cho chồng bà là ông Trần Minh H. Bị cáo yêu cầu số tiền 200.000.000đ, nhưng khi vừa nhận số tiền lần thứ nhất là 55.000.000đ thì bị bắt quả tang.

[2] Căn cứ diễn biến của vụ án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT kiểm sát xét xử tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hoàng Đình H 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử lý trách nhiệm dân sự và buộc bị cáo nộp án phí hình sự.

[3] Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thu thập đều hợp pháp. Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3.2] Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng có tại hồ sơ vụ án đã được công bố công khai tại phiên tòa; phù hợp các chứng cứ, tài liệu khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[3.3] Căn cứ chứng cứ, tài liệu hợp pháp tại hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, lời khai bị cáo tại phiên tòa có cơ sơ khẳng định hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Số tiền bị cáo đã nhận trực tiếp từ người bị hại là 55.000.000đ, nhưng có đầy đủ căn cứ chứng minh Hoàng Đình H có ý định nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại số tiền 200.000.000đ. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền 200.000.000đ.

[3.4] Do đó, Bản cáo trạng số 179/CT-VKS ngày 04/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT đã truy tố bị cáo Hoàng Đình H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sở hữu của công dân, gây mất trật tự, trị an địa phương. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra tù không lo làm ăn chân chính mà tiếp tục đi vào con đường cũ; có nhân thân xấu. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 và đánh giá nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo một mức án tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, vì vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, nhưng không yêu cầu, nên không xét. Người bị hại, đã được tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt và đã nhận lại tiền bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ. Nếu, sau này có yêu cầu sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.

[6] Về vật chứng: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Philip, Hoàng Đình H sử dụng để liên lạc với người bị hại, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Hoàng Đình H, Xử phạt: Bị cáo Hoàng Đình H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giám 16/10/2018.

* Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, không yêu cầu nên không xét. Người bị hại vắng mặt, nếu họ có yêu cầu sẽ xét xử sau theo quy định của pháp luật.

* Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Philip.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/6/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố NT và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố NT).

* Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết, được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.


74
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 167/2019/HSST ngày 22/07/2019 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:167/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về