Bản án 163/2021/HNGĐ-ST ngày 03/06/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 163/2021/HNGĐ-ST NGÀY 03/06/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 184/2021/TLST-HNGĐ ngày 23/3/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/4/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 126/2021/QĐST-DS ngày 18/5/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Hồng N, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp 1, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Lâm Hãi Đ, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Ấp 3, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Nguyên đơn có mặt. Bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 23/3/2021 của nguyên đơn có tại hồ sơ và tại phiên tòa, thể hiện: Vào tháng 02/2020 chị N và anh Đ tự nguyện sống chung với nhau, hôn nhân tự nguyện, có Đ ký kết hôn tại UBND xã K (Giấy chứng nhận kết hôn số: 27/2020 ngày 10/02/2020 của UBND xã K). Thời kỳ chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Lâm Thảo M, sinh 17/01/2021.

Về tài sản chung: Vợ chồng có 12 chỉ vàng 24k là nữ trang cho trong ngày cưới (đã bán hết hiện nay không còn); 01 chiếc xe hiệu Nouvo trị giá hiện nay khoản 05 triệu đồng và 01 chiếc xe EXITER 150 (hiện nay anh Đ quản lý). Quá trình chung sống vợ chồng bán chi xài chung 02 chỉ vàng 24k, còn lại 10 chỉ vàng 24k trong lúc bị sụt thai thì có đi điều trị nên đã bán hết 10 chỉ vàng 24k để dùng vào việc điều dưỡng thai, sinh con, nuôi con đến nay hiện nay không còn.

Về nợ chung: Không có.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong lúc mang thai vào thời gian tháng 12/2020 thì chị N có bị sụt thai, chị N có gọi cho anh Đ thông báo, nhưng anh Đ không quan tâm, sau đó cha mẹ chị N đưa chị N đi điều trị dưỡng thai, rồi anh Đ nộp đơn khởi kiện ly hôn với chị N (nhưng anh Đ đã rút đơn vì chị N đang mang thai). Ngoài ra, vợ chồng không có mâu thuẫn gì khác. Vợ chồng không sống chung với nhau từ tháng 12/2020 cho đến nay, mặc dù hai bên gia đình hàn gắn nhưng không thành, cuộc sống vợ chồng hiện nay chị N xét thấy không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.

Nay chị N yêu được ly hôn với anh Đ. Về con chung yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu anh Đ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng, cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung là chiếc xe Nouvo hiện nay anh Đ đã bán nên chị N xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với chiếc xe, đồng thời rút lại yêu cầu trợ cấp tiền sữa 54.000.000 đồng cho con đến 18 tháng tuổi, đối với 01 chiếc xe EXITER 150 không yêu cầu giải quyết. Đối với yêu cầu chia đôi 10 chỉ vàng 24k của anh Đ hiện nay không còn nên không đồng ý trước yêu cầu của anh Đ. Về nợ chung không yêu Tòa án giải quyết.

- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ, thể hiện: Anh Đ thống nhất với lời trình bày của chị N về mối quan hệ hôn nhân, con chung và nợ chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 chiếc xe Nouvo hiện nay anh Đ đã bán không còn. Vợ chồng có 12 chỉ vàng 24k là nữ trang trong ngày cưới, quá trình chung sống vợ chồng bán chi xài chung 02 chỉ vàng 24k, còn lại 10 chỉ vàng 24k chị N quản lý và đã bán nhưng chi xài hết vào mục đích gì anh Đ không biết. Anh Đ xác định từ tháng 12/2020 đến nay vợ chồng không sống chung với nhau và anh Đ cũng không có trợ cấp tiền gì để chị N điều trị dưỡng thai, sinh con, nuôi con.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Do vào tháng 12/2020 chị N tự ý bỏ về nhà cha mẹ chị N ở mà không cho anh Đ và gia đình hay, nên phát sinh mâu thuẫn cho đến nay. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.

Nay anh Đ đồng ý ly hôn với chị N. Về con chung đồng ý giao cho chị N nuôi, anh Đ tự nguyện cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung yêu cầu chia đôi 10 chỉ vàng 24k, yêu cầu chị N đưa lại 05 chỉ vàng 24k. Về nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và bị đơn có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét về thủ tục: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Xét yêu cầu và ý kiến của đương sự:

[3.1] Về yêu cầu ly hôn: Mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Đ được xác lập trên tinh thần tự nguyện và có Đ ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên mối quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân vợ chồng nếu muốn có được hạnh phúc dài lâu và đạt được mục đích thì vợ chồng phải bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ và phải biết thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau. Nhưng chị N và anh Đ không làm được đều đó mà lại làm cho đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N và anh Đ không sống chung với nhau từ tháng 12/2020 cho đến nay nhưng hai bên không hàn gắn lại với nhau được, hơn nữa quá trình giải quyết vụ án chị N và anh Đ cương quyết ly hôn với nhau, do đó xác định chị N và anh Đ đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, nếu tiếp tục duy trì về sau thì sẽ không đảm bảo hạnh phúc và trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình hiện nay, nên cần chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh Đ là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. (Giấy chứng nhận kết hôn số: 27/2020 ngày 10/02/2020 của UBND xã K hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật).

[3.2] Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con:

- Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:

Hội đồng xét xử xét thấy sau khi ly hôn thì giữa chị N và anh Đ thỏa thuận với nhau người trực tiếp nuôi con là chị N và việc thỏa thuận giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và chị N không thuộc trường hợp không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dạy con, nên cần ghi nhận và giao cháu Lâm Thảo M, sinh 17/01/2021 cho chị N nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, anh Đ có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với chị N, nếu anh Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Giữa chị N và anh Đ thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng và mức tiền cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy việc tự nguyện thỏa thuận giữa chị N và anh Đ là hoàn toàn tự nguyện và không trái với đạo đức xã hội, quy định của pháp luật, đồng thời để đảm bảo quyền và lợi ích của các con chung nên cần ghi nhận và buộc anh Đ cấp dưỡng cho cháu M mỗi tháng là 1.000.000 đồng và phương thức cấp dưỡng hàng tháng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình.

[3.3] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị N tự nguyện rút yêu cầu chia tài sản là chiếc xe Nouvo và yêu cầu trợ cấp tiền sữa 54.000.000 đồng cho con đến 18 tháng tuổi không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu chia tài sản và tiền trợ cấp của chị N. Đối với yêu cầu chia tài sản đối với 10 chỉ vàng 24k của anh Đ, Hội đồng xét xử xét thấy anh Đ không có đơn yêu cầu và dự nộp tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật và đã hết thời hạn Tòa án quy định cho anh Đ thực hiện quyền yêu cầu chia tài sản, do đó không có căn cứ để xem xét yêu cầu chia tài sản của anh Đ trong vụ án này theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, nên cần tách ra trường hợp sau này giữa các đương sự có tranh chấp và có yêu cầu thì xem xét giải quyết bằng vụ án khác.

Đối với 01 chiếc xe EXITER 150 chị N đặt ra tại phiên tòa và không có yêu cầu, nên không xem xét.

[3.4] Về nợ chung: Chị N và anh Đ xác định không có và không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, nên không xem xét.

[4] Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Chị N phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, anh Đ phải chịu án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chị N đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 244, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Hồng N.

- Về hôn nhân: Cho chị Đặng Hồng N ly hôn với anh Lâm Hãi Đ.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 27/2020 ngày 10/02/2020 của UBND xã K hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Giao cho chị N trực tiếp nuôi dạy cháu Lâm Thảo M, sinh 17/01/2021. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, anh Đ có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống với chị N, nếu anh Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lâm Thảo M, sinh 17/01/2021 mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi nghĩa vụ cấp dưỡng được chấm dứt theo quy định của pháp luật. Phương thức cấp dưỡng: 01 tháng cấp dưỡng 01 lần, thời gian cấp dưỡng tính kể từ ngày 03/6/2021. Khi có lý do chính đáng và có yêu cầu thì mức cấp dưỡng có thể thay đổi.

Kể từ ngày chị N có đơn yêu cầu thi hành án mà anh Đ chậm thực hiện nghĩa vụ đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên, thì hàng tháng anh Đ còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.

- Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản là chiếc xe Nouvo và yêu cầu trợ cấp tiền sữa 54.000.000 đồng cho con đến 18 tháng tuổi của chị Đặng Hồng N.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị N phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị N đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004786 ngày 23/3/2021 và 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004785 ngày 23/3/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ, chị N được hoàn lại tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng. Anh Đ phải nộp án phí cấp dưỡng cho con là 300.000 đồng (chưa nộp).

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 163/2021/HNGĐ-ST ngày 03/06/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn

Số hiệu:163/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:03/06/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về