Bản án 16/2021/HS-ST ngày 19/01/2021 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 16/2021/HS-ST NGÀY 19/01/2021 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 19 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 545/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Quốc H, sinh ngày 03/7/2001 tại tỉnh Kiên Giang; thường trú: Ấp H B, xã M Th, huyện Ch Th, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn T, sinh năm 1972 và bà Trần Kim X, sinh năm 1973; bị cáo có 02 chị ruột, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/9/2020 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Chị Từ Thị D, sinh năm 1978; thường trú: Thôn Ph L 2, xã Qu Ph, huyện Qu Tr, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Lê Văn T, sinh năm 1972; thường trú: Ấp H B, xã M Th, huyện Ch Th, tỉnh Kiên Giang; có mặt.

2. Anh Nguyễn Việt H, sinh năm 1981; thường trú: Số 434/32/10 khu phố B Qu, Phường HT, quận B Th, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số 67/5 đường BT, khu phố T, phường H B Ch, quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

3. Anh Danh Ph, sinh năm 1991; thường trú: Tổ N, ấp H B, xã M Th, huyện Ch Th, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Việt H, sinh năm 1981.

2. Anh Nguyễn Hữu D, sinh ngày 25/3/2003.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quốc H và Nguyễn Văn Chí Th, sinh ngày 20/12/2005; thường trú: Khóm T Ch A, Phường H, thị xã Ng N, tỉnh Sóc Trăng có mối quan hệ họ hàng với nhau, không có nghề nghiệp ổn định. Do không có tiền tiêu xài nên Th rủ H đi cướp giật tải sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 09 giờ ngày 3/9/2020, H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số 68C- 383.74 chở Th từ nhà trọ địa chỉ số 15/1 khu phố H L, phường V Ph, thành phố Th A, tỉnh Bình Dương để đi đến các công trình xin việc làm nhưng không tìm được việc, trên đường đi Th rủ H tìm người có tài sản sơ hở chiếm đoạt. H điều khiển xe mô tô biển số 68C-38374 đến trước địa chỉ số 24/11 đường L Tr T, khu phố B Đ 2, phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương thì nhìn thấy chị Từ Thị D đang dừng xe để nghe điện thoại nên H áp sát lại giật điện thoại của chị Dương, lúc này Th ngồi sau giật điện thoại Samsung Galaxy A11 của chị D rồi nhanh chóng tẩu thoát, chạy được 100m thì xe mô tô của H va chạm với xe mô tô biển số 59X2-292.44 của anh Nguyễn Việt H làm cho H, Th và anh H té ngã xuống đường, lúc này H bị quần chúng nhân dân cùng Công an phường A B bắt quả tang, còn Th trốn thoát.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số 68C-383.74 và 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A11.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 149/KLĐGHĐĐGTS ngày 04/9/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, kết luận: 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A11-32GB, màu xanh có trị giá 2.300.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại Kết luận định giá tài sản số 149/KLĐGHĐĐGTS ngày 04/9/2020 của Hội đồng định giá thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đối với tên Nguyễn Văn Chí Th đã bỏ trốn chưa làm việc được và chỉ qua lời khai của bị cáo H về tên Th chưa đủ căn cứ để khởi tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra xác minh, làm rõ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKS-DA ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Quốc H phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Quốc H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tù.

* Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A11, đã thu hồi trả lại cho bị hại Từ Thị D nên không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số 68C- 383.74, bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Danh Ph là anh rể của bị cáo H, anh Ph cho H mượn làm phương tiện đi lại, không biết Hải sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đã trả xe trên cho anh Ph.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã trả lại cho bị hại Từ Thị D, đồng thời bị hại D không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

- Đối với anh Nguyễn Việt H, trong quá trình bị cáo cướp giật tài sản có gây thương tích cho anh H, anh H đã nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo với số tiền 9.000.000 đồng, anh H không yêu cầu gì khác đồng thời anh H có đơn đề nghị từ chối giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương ra Quyết định dẫn giải anh H đi giám định nhưng anh H không đồng ý đi giám định nên không đặt ra xem xét.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại và người chứng kiến; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 09 giờ ngày 03/9/2020, trước địa chỉ số 24/11 đường L Tr T, khu phố B Đ 2, phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Lê Quốc H điều khiển xe mô tô giật điện thoại Samsung Galaxy A11 của bị hại Từ Thị D rồi nhanh chóng tẩu thoát nhưng bị bắt giữ. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt 2.300.000 đồng.

[3] Như vậy, hành vi bị cáo dùng xe mô tô giật điện thoại của bị hại có giá trị 2.300.000 đồng của bị hại rồi nhanh chóng tẩu thoát của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”. Do đó, Cáo trạng số: 23/CT–VKS-DA ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Lê Quốc H về tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, tính mạng, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đồng thời bị hại có đơn giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự đồng thời bị cáo có vợ (chưa đăng ký kết hôn), hiện đang mang thai nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[8] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, hành vi điều khiển xe mô tô giật tài sản của bị hại là rất nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và tính mạng, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương đồng thời hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A11, đã thu hồi trả lại cho bị hại Từ Thị D nên không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh, biển số 68C- 383.74, bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Danh Phương là anh rể của bị cáo H, anh Ph cho H mượn làm phương tiện đi lại, không biết Hải sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đã trả xe trên cho anh Ph, là đúng theo quy định của pháp luật.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

- Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy A11, hiện đã thu hồi trả lại cho bị hại Từ Thị D, đồng thời bị hại D không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với anh Nguyễn Việt H, trong quá trình bị cáo cướp giật tài sản có gây thương tích cho anh H, anh H đã nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo với số tiền 9.000.000 đồng, anh H không yêu cầu gì khác đồng thời anh H có đơn đề nghị từ chối giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương ra Quyết định dẫn giải anh H đi giám định nhưng anh H không đồng ý đi giám định nên không đặt ra xem xét.

[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận. Còn mức hình phạt, xét nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt nhẹ hơn Viện kiểm sát đề nghị để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lê Quốc H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2020.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lê Quốc H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2021/HS-ST ngày 19/01/2021 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:16/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:19/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về